|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 04/2026/HNGĐ-PT Ngày: 28-01-2026 V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương.
Ông Nguyễn Trung Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Thân Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2025/TLPT-HNGĐ ngày 12/10/2025 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13 /2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2026/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Mai A, sinh năm 1993. Có mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Ngọc Khám, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Chỗ ở: Ngõ 63/5/29 Lê Đức Thọ, phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1989. Có mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Khương Thị Thùy T, Công ty L, đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ: Số B đường N, phường K, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
Người kháng cáo: Anh Phạm Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A trình bày: Chị và anh Phạm Văn S kết hôn hợp pháp từ năm 2015, có 02 con chung và đã ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh), chị và anh Phạm Văn S đã thuận tình ly hôn và thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, trong đó có về thoả thuận về con chung là: Giao con chung là cháu Phạm Minh T1, sinh ngày 04/3/2016 và cháu Phạm Minh N, sinh ngày 19/02/2021 cho anh Phạm Văn S trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề nghị Toà án giải quyết.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn, mỗi lần chị đến thăm nom, chăm sóc con thì anh S và gia đình anh S (mẹ đẻ anh S là bà Nguyễn Thị N1) đều không cho chị gặp và cản trở; có hành vi, lời nói không chuẩn mực với chị, mặc dù mỗi lần trước khi đến thì chị đều xin phép và thông báo trước cho anh S và tại phiên toà hôm nay chị giao nộp cho Toà án bản quay video và tin nhắn sự việc làm bằng chứng. Ngoài ra, anh S đi hát chầu văn suốt ngày, mẹ đẻ anh S thì bị liệt nên việc anh S nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung là khó khăn, không đảm bảo và nhất là cháu N tuổi còn nhỏ và là con gái cần sự nuôi dưỡng và chăm sóc của người mẹ là chị thì sẽ tốt hơn. Hơn nữa, chị chỉ xin được thay đổi nuôi dưỡng một con chung là cháu N (để khỏi cô đơn sau khi ly hôn; khi ly hôn thì chị đã phải ra đi tay trắng); anh S vẫn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1. Mặt khác, chị có chỗ ở ổn định tại Ngõ F L, phường T, thành phố Hà Nội (chị đã giao nộp Hợp đồng thuê nhà cho Toà án để làm căn cứ). Tiếp nữa, chị đảm bảo các điều kiện về mặt tinh thần cũng như vật chất để nuôi con chung. Hiện tại chị làm công nhân tại Công ty TNHH Q địa chỉ: B Đê L, phường L, thành phố Hà Nội, thu nhập 15.000.000 đồng/tháng (chị đã giao nộp Hợp đồng lao động và bảng lương cho Toà án để làm căn cứ).
Do vậy, nay chị xin thay đổi về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, như sau: Chị xin được thay đổi quyền nuôi dưỡng cháu Phạm Minh N, sinh ngày 19/02/2021. Về cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu N: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Còn đối với cháu Phạm Minh T1, sinh ngày 04/3/2016: Vẫn giữ nguyên theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 trên, chị không có gì thay đổi và không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn là anh Phạm Văn S trình bày: Anh và chị Đỗ Thị Mai A kết hôn hợp pháp từ năm 2015, có 02 con chung và đã ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh), anh và chị Đỗ Thị Mai A đã thuận tình ly hôn và thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, trong đó có về thoả thuận về con chung là: Giao con chung là cháu Phạm Minh T1, sinh ngày 04/3/2016 và cháu Phạm Minh N, sinh ngày 19/02/2021 cho anh Phạm Văn S trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề nghị Toà án giải quyết.
Tuy nhiên, nay chị Mai A có yêu cầu xin thay đổi về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là: Chị Mai A xin được thay đổi quyền nuôi dưỡng cháu Phạm Minh N, sinh ngày 19/02/2021 thì anh không nhất trí, bác bỏ và đề nghị giữ nguyên quyết định anh xin được tiếp tục nuôi cháu N theo quyết định trên. Bởi lẽ: Chị Mai A không có công việc, thu nhập và nơi cư trú ổn định. Sau khi ly hôn, chị Mai A đến thăm nom, chăm sóc con thì anh và gia đình vẫn cho gặp bình thường, không cản trở và chị Mai A còn có hành vi, lời nói không chuẩn mực với anh và gia đình anh (tuy nhiên, anh chỉ có lời trình bày chứ không có chứng cứ nào giao nộp cho Toà án để làm căn cứ). Hơn nữa, hiện anh đang nuôi cháu N vẫn đảm bảo và cháu phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cũng như cháu đang sinh sống và học hành ổn định. Ngoài ra, anh vẫn đảm bảo các điều kiện về mặt tinh thần cũng như vật chất để nuôi cháu N. Hiện tại anh làm nghề tự do (làm hát chầu văn) thu nhập bình quân khoảng 20.000.000 đồng/tháng (do anh làm nghề tự do nên không có bảng lương cũng tài liệu, chứng cứ nào giao nộp cho Toà án để làm căn cứ).
Còn đối với cháu Phạm Minh T1, sinh ngày 04/3/2016: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 trên, thì tôi được nuôi dưỡng và nay chị Mai A không có gì thay đổi và hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Giao con chung là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 19/02/2021 cho chị Đỗ Thị Mai A trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu N: Không đề cập giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17/9/2025, anh Phạm Văn S kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao cháu Phạm Minh N cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Đỗ Thị Mai A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; anh Phạm Văn S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn S; Sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mai A, tiếp tục giao cháu Phạm Minh N cho anh Phạm Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn S không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Phạm Văn S nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của anh Phạm Văn S đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng tiếp tục giao cháu Phạm Minh N cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, anh S có giao nộp các tài liệu, chứng cứ thể hiện ngoài mức thu nhập từ kinh doanh tạp hóa khoảng 7.000.000 đồng/tháng, anh còn có 10 phòng trọ cho thuê khoảng 20.000.000 đồng/tháng, đơn xác nhận của giáo viên chủ nhiệm về việc cháu N đang phát triển, học tập tốt…. Đánh giá toàn diện, khách quan vụ án, Hội đồng xét xử thấy về điều kiện nuôi con hiện nay anh S có chỗ ở ổn định, đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ, có nguồn thu nhập hàng tháng, cháu N ở với anh từ nhỏ, đã quen với môi trường sống, học tập ở đây, cô giáo chủ nhiệm cũng xác nhận cháu N hiện đang phát triển và học tập tốt; mặt khác ngày 14/5/2025 chị Mai A và anh S cũng đã thống nhất việc giao 02 con chung cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Phía chị Đỗ Thị Mai A cho rằng anh S và gia đình anh cản trở việc thăm nom con, nghiên cứu các tài liệu chị Mai A cung cấp là hình ảnh tin nhắn, USB, HĐXX nhận thấy các tài liệu này không thể hiện rõ việc anh S ngăn cấm việc thăm con, nội dung USB thể hiện sự mâu thuẫn, tranh cãi giữa chị Mai A và bố mẹ anh S, đây cũng là những mâu thuẫn đã có từ trước và các bên đều thừa nhận; bên cạnh đó chị Mai A đang thuê trọ, sinh sống một mình và đang đi làm công ty. Do vậy, tại thời điểm hiện nay, để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết trong cuộc sống, sinh hoạt học tập của cháu N, cần tiếp tục giao cháu N cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Từ phân tích trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh S, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tiếp tục giao cháu N cho anh S nuôi dưỡng.
Cần nhắc nhở anh S cũng như các thành viên trong gia đình cần đảm bảo quyền thăm nom con của chị Mai A và chị Mai A cũng cần lưu ý không được lạm dụng việc thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh S. Anh S, chị Mai A cần thống nhất với nhau về thời gian, địa điểm, … thăm, đón con để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung phát triển bình thường.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 BLTTDS và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, do kháng cáo của anh Phạm Văn S được chấp nhận nên anh S không chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
[4]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn S; sửa Bản án sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Mai A về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tiếp tục giao con chung là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 19/02/2021 cho anh Phạm Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu N: Không đề cập giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Mai A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, xác nhận chị Mai A đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003820 ngày 04/8/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Về án phí phúc thẩm: Anh Phạm Văn S không phải chịu án phí phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hải Hường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Trung Thông – Nguyễn Gia Lương |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT ngày 28/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
- Số bản án: 04/2026/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
