Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/DS-PT

Ngày: 14/01/2026

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Hoàn.

Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang và bà Trần Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Khánh Chi - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2025/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 12 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 03/TB-TA, ngày 05 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

  • *Nguyên đơn: ông Lê Văn T, sinh năm: 1963; (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số A đường H, phường B, tỉnh Đăk Lăk;
  • Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Văn T có ông Trần Thư Đ, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Xóm V, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt).
  • *Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị Q - Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư H2. (Có mặt); Địa chỉ: Số E, đường T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh.
  • *Bị đơn:
    1. Ông Đặng Văn V, sinh năm: 1970; (Có mặt)
    2. Bà Võ Thị L; Sinh năm: 1972; (Vắng mặt)
  • Đều trú tại thôn A, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • *Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Văn V có anh Đặng Văn Q1, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Thôn A, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh). Tạm trú tại: Số B đường N, phường V, thành phố H.
  • *Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Chiến T1, chức vụ: Chủ tịch;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân D, chức vụ: Trưởng phòng kinh tế và ông Nguyễn Xuân H, chức vụ: Chuyên viên phòng Kinh tế (Ông H có mặt, ông D vắng mặt)
    1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1969; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số A đường H, phường B, tỉnh Đăk Lăk;
    1. Hạt kiểm lâm C;
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng P; Chức vụ: Hạt trưởng;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Anh T2, chức vụ: Phó Hạt trưởng (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo nội dung đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 10/11/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:

Năm 1993, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự ông Lê Văn T xuất ngũ trở về địa phương, thời điểm đó chính quyền địa phương đang thực hiện Nghị định 135 của Chính phủ về giao đất đồi rừng cho nhân dân sản xuất, vì thế gia đình ông T được Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho 5ha đất rừng để sản xuất, theo sổ lâm bạ số 302 ngày 10/01/1993 thì đất có ranh cụ thể như sau: phía Đông giáp anh N, phía Tây giáp anh Đ1, phía Bắc giáp đá cổng, phía Nam giáp đường G.

Sau khi nhận đất, gia đình ông T đã sử dụng một phần diện tích để trồng lúa bát để bảo vệ cây lâm nghiệp tái sinh và đã mượn anh em vào đào hố trồng cây bạch đàn, đến tháng 7/1998 thì thu hoạch bán cây và tiếp tục trồng bạch đàn, keo. Đến tháng 11/1998, gia đình ông T chuyển vào Đắk Lắk làm ăn, sinh sống, nhờ cậu là ông Võ Đình T3 trông coi hộ đất và cây. Đến năm 2001, thì ông T3 thông báo cho ông biết về việc ông Đặng Văn V lấn chiếm một phần đất của ông, năm 2016 ông T trình báo lên UBND xã T và UBND xã T đã phối hợp phòng Tài nguyên và môi trường tổ chức hòa giải nhưng không thành. Hiện nay, gia đình ông V đã chiếm toàn bộ thửa đất với diện tích là 05 ha. Năm 2020, quá trình giải quyết tranh chấp giữa ông Lê Văn T và ông Đặng Văn V, UBND huyện C đã xác định lại diện tích thửa đất là 34.061,5m² và ranh giới giữa 02 hộ, theo đó ông T đã thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 24.061,5m².

Do đó, ông T đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông V, bà L trả lại cho vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H1 diện tích đất rừng (05 ha) mà ông T đã được UBND huyện C cấp theo sổ lâm bạ số 302/QĐ-UB ngày 10/01/1993.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Văn T cho rằng khi nhận đất thì có đo đạc, nhận đủ 5 ha gồm phần đất ông V đang sử dụng và phần đất phía sau, có ranh giới: phía Nam giáp đất anh N (qua đầm lầy), phía Đông giáp đường 70, phía Bắc giáp đất anh Đ1 (phía con đường đất), phía Tây giáp Đá Cổng nhưng không tiếp giáp trực tiếp mà chỉ là hướng có Đá Cổng. Sơ đồ phía sau sổ lâm bạ là do ông T4, cán bộ địa chính lúc đó vẽ (hiện nay ông T4 đã chết). Việc xác định phương hướng thì ông T không biết chính xác thửa đất có hướng như thế nào nhưng vị trí thì đúng thửa đất hiện nay ông V đang sử dụng.

*Bị đơn ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L trình bày:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho rằng thửa đất đang sử dụng có nguồn gốc từ cha của ông Đặng Văn V là Đặng Văn T5 khai hoang, đã được cấp sổ lâm bạ mang tên ông T5 với diện tích 2 ha, đến năm 2000 mới cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V với diện tích 10.000m². Thửa đất này không tiếp giáp với thửa đất nào, từ trước tới nay chỉ có vợ chồng ông V sử dụng còn ông T không canh tác trên thửa đất này.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 không nêu ý kiến về việc giải quyết vụ án, có đơn xin xét xử vắng mặt và ủy quyền cho ông Lê Văn T toàn quyền quyết định.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hạt Kiểm lâm huyện C trình bày:

Trong biên bản kiểm tra xác định ranh giới thửa đất ngày 12/9/2020 có đại diện Hạt kiểm lâm huyện C, thực hiện theo chỉ đạo của UBND huyện phối hợp với phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND xã T để xác định khu vực tranh chấp có hiện trạng rừng và thuộc đối tượng quy hoạch đất trồng rừng sản xuất theo Quyết định số 2735/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của UBND tỉnh H.

Hiện nay, Hạt kiểm lâm huyện C chỉ quản lý hiện trạng rừng, quy hoạch đối tượng rừng dựa trên quy hoạch lâm nghiệp quốc gia tại Quyết định số 895/QĐ-TTg ngày 24/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ. Hạt Kiểm lâm chỉ quản lý về mặt Nhà nước, phối hợp các cơ quan xử lý tranh chấp đất rừng. Quản lý đất đai cụ thể, diện tích đất rừng giao cho chủ rừng nào thì thuộc trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương.

Năm 2013, UBND tỉnh H chủ trương thực hiện đề án giao đất, giao rừng, thực hiện rà soát, kiểm tra để giao đất và rừng để sử dụng. Thời điểm đó, chủ rừng được giao đất, giao rừng từ năm 2013 trở về trước phải nộp lại sổ lâm bạ để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện.

Qua rà soát, tại đơn vị không tìm được hồ sơ lưu liên quan đến việc giao đất rừng cho ông Lê Văn T.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh không có văn bản trả lời các nội dung liên quan và không cử người tham gia tố tụng.

Tuy nhiên, ông Trần Đình V1 (nguyên Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường UBND huyện C và là người tham gia xác định ranh giới thửa đất Lê Văn T và Đặng Văn V ) trình bày:

Qua rà soát hồ sơ, có việc UBND huyện C cấp sổ lâm bạ số 302 ngày 10/01/1993 cho ông Lê Văn T và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn V. Đối với sổ lâm bạ của chủ rừng Lê Văn T thì địa chỉ “Thôn C” được hiểu là địa chỉ cư trú của chủ rừng, còn địa chỉ thửa đất được cấp quyền sử dụng đất được phản ánh qua ranh giới tứ cận. Ranh giới thể hiện trên sổ lâm bạ có giá trị xác định hướng thửa đất chứ không phải xác định ranh giới tiếp giáp chính xác. Mặt khác, vào năm 1993 việc đo đạc bằng thủ công, không có máy móc nên có thể có sự chênh lệch, diện tích trên sổ lâm bạ và diện tích thực tế sử dụng đối với thửa đất tranh chấp. Kết quả đo đạc thực tế năm 2020 cho thấy tổng diện tích thửa đất là 34.061,5m². Thời điểm đó ông T chấp nhận quyền sử dụng đất đối với 24.061,5m², đồng ý quyền sử dụng 10.000m² của ông V nhưng phía ông V không chấp nhận.

Tại biên bản xác định ranh giới thửa đất ngày 12/9/2020 được thực hiện theo phương pháp đo đạc: Xác định điểm đầu tiếp giáp đường 70, cạnh phía Tây Nam lấy các điểm mốc tiếp giáp giữa đất lâm nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp (Lầy riềng, Lầy táy). Điểm phía Tây là điểm cuối của thửa đất. Từ đó đo đạc khoanh vẽ diện tích 10.000m² theo giấy chứng nhận đã cấp cho ông Đặng Văn V. Phần còn lại theo hiện trạng không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đặng Văn V tại thời điểm đo đạc chủ yếu là tái sinh và phía dọc đường đất nối từ đường 70 đi vào vùng đất lâm nghiệp phía trên có các loại cây keo, bạch đàn do người dân tự trồng (tại thời điểm kiểm tra chưa xác định được hộ trồng).

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã Đ trình bày: Theo sổ 05 thì thửa đất cấp cho ông Lê Văn T và thửa đất cấp cho ông Đặng Văn V là hai thửa khác nhau. Thửa đất của ông T ở K còn thửa đất của ông V ở L. Còn xác định cụ thể, chính xác vị trí, ranh giới và nguồn gốc sử dụng đất thì hiện nay không thực hiện được. Đối với hồ sơ ông Lê Văn T xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2020 được thực hiện căn cứ việc xác định 10.000m² đất cắt cho ông Đặng Văn V theo biên bản xác định ranh giới ngày 12/9/2020, thực hiện theo các biểu mẫu được hướng dẫn nhưng hiện nay không còn giá trị pháp lý.

*Người làm chứng ông Trần Văn L1 trình bày: Ông L1 là người đi giao đất cho ông Lê Văn T nhưng khi đó việc xác định vị trí đất chỉ ước lượng chứ không đo đạc cụ thể. Phần đất giao cho ông T là phần đất mà gia đình ông V đang sử dụng nhưng cụ thể, chính xác như thế nào thì ông L1 không nhớ.

*Người làm chứng ông Võ Đình T3 trình bày: Năm 1998, ông T chuyển vào Đắk Lắk sinh sống, giao đất lại cho ông T3. Sau đó, do ông T3 nhiều đất ở vùng khác nữa không quản lý được phần đất ông T giao lại. Sau khoảng 4 đến 5 năm thì ông T3 liên lạc với ông T nói là đất của ông T có người sử dụng rồi nên dượng về giải quyết.

Kết quả thẩm định của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc ngày 14/02/2025 thể hiện: Toàn bộ thửa đất ông Đặng Văn V sử dụng trồng cây hiện nay là thửa đất số 236, tờ bản đồ số 19 tại thôn A, xã T, huyện C có diện tích 32.898m². Có ranh giới phía Bắc và Đông Bắc giáp đường 70; phía Tây và T giáp đường đất rộng 8m; phía Đông giáp đầm lầy và phía Nam giáp Khe Cạn, trên toàn bộ phần diện tích đất là cây keo có độ tuổi 02 năm là tài sản của ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L. Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu định giá đối với tài sản trên đất, bị đơn đồng ý tự xử lý tài sản trên đất nếu bị đơn sai.

*Người làm chứng ông Trần Thế N1 trình bày: Tôi đến vùng đất này sinh sống vào năm 1978, khi tôi đến đây thì vùng đất chưa có ai sinh sống, canh tác. Sau đó, ông T5 (cha ông V) và một số người đến làm lúa bát. Sau một thời gian thì ông V sử dụng, không thấy ông T, ông T3 trồng cây ở đây.

Với nội dung trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự; Điều 14, 41 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Điều 25, 26 Luật Đất đai năm 1987; Điều 23, 26, 31, 236 Luật Đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Văn T. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 25/8/2025, nguyên đơn ông Lê Văn T làm đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T.

Luật sư Nguyễn Thị Q bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày và tranh luận: Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất: Thửa đất này ông Lê Văn T được UBND huyện C cũ cấp Sổ lâm bạ ngày 10/01/1993 đối với phần diện tích đất 5ha đất tại khu vực K. Sau khi được giao đất ông Lê Văn T đã trồng cây, đến năm 1998 thì ông T rời khỏi địa phương và gửi lại thửa đất cho ông Võ Đình T3 trông coi, sử dụng. Năm 2001, ông T3 thông báo ông V đã lấn chiếm thửa đất của ông V. Về ranh giới thể hiện trên sổ lâm bạ có giá trị xác định hướng của thửa đất chứ không phải xác định ranh giới tiếp giáp chính xác. Mặt khác, năm 1993 việc đo đạc bằng thủ công không có máy móc nên có sự chênh lệch giữa diện tích trên sổ lâm bạ và diện tích thực tế sử dụng đối với thửa đất tranh chấp. Kết quả đo đạc thực tế năm 2020 cho thấy tổng diện tích thửa đất là 34.061,5m².

Quá trình giải quyết ở Tòa án sơ thẩm UBND xã T (cũ) không xác định được vị trí cụ thể ranh giới thửa đất do không tìm thấy tài liệu chứng cứ. Tuy nhiên hiện nay, UBND xã Đ đã tìm thấy tài liệu và cung cấp cho Tòa án gồm trích sao sổ 05 và trích sao bản đồ lâm nghiệp năm 1995. Tại trích sao sổ 05 bản đồ lâm nghiệp năm 1995 mà UBND xã cung cấp thể hiện: ông Lê Văn T được cấp quyền sử dụng đất trong thửa đất số 02, tờ bản đồ 321, có tổng diện tích 139.219m² (bản đồ sử dụng đất lâm nghiệp trước đây), tại khu vực K với diện tích 50.000m². Phù hợp với Sổ lâm bạ số 02 ngày 10/01/1993 do UBND huyện C cũ cấp cho ông Lê Văn T. Đây là tài liệu mới được UBND xã Đ cung cấp mà lại ở phiên tòa sơ thẩm UBND xã chưa cung cấp được.

Về Kết quả thẩm định đã xác định thửa đất tranh chấp có diện tích 34.043m², vị trí thửa đất tranh chấp có vị trí tứ cận là đông bắc giáp đường bê tông (chính là đường 70 phù hợp với sổ lâm bạ và bản đồ đất rừng, phía tây bắc giáp đường đất, bên kia đường trước đây là đất ông Đ1 phù hợp với sổ lâm bạ), đông bắc giáp đất khe, đầm lầy bên kia là đất ông N là phù hợp với sổ lâm bạ. phía T, giáp khe đầm lầy. Các sai sót của Sổ lâm bạ năm 1993 đã được UBND xã Đ xác nhận tại văn bản số 785/BND-KT ngày 17/12/2025. Vì vậy, đề nghị HĐXX xem xét sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Đặng Văn V, bà Võ Thị L trả lại thửa đất tranh chấp có diện tích 34.043,7m², nếu được chấp thuận ông T tự nguyện cắt cho ông V bà L 10.000m² đất, đề nghị buộc trả lại 24.043,7m² đất tại thửa đất 236, tờ bản đồ số 19, tại thôn S, xã Đ cho ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H1, giao tài sản trên đất là cây keo tràm do ông V trồng cho ông T được sở hữu, ông T sẽ trả lại giá trị tài sản theo định giá tương ứng số lượng cây trên 24.043,7m² cho ông V. Về chi phí thẩm định, nguyên đơn tự nguyện nộp và không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Thư Đ2 hoàn toàn đồng tình với ý kiến của Luật sư và không bổ sung gì thêm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Đặng Văn Q1 trình bày: Về ranh giới, các hướng của thửa đất trên sổ lâm bạ được cấp cho ông Lê Văn T không giống với ranh giới cũng như các hướng trên thực địa, diện tích trên sổ lâm bạ không phù hợp với thực tế. Hơn nữa, ông T không chứng minh việc ông đã khai thác sử dụng thửa đất của mình bắt đầu từ thời gian nào. Đối với thửa đất tranh chấp này gia đình bị đơn đã sử dụng từ lâu và đã trồng cây Keo Tràm và đã thu hoạch nhiều năm. Kể từ khi nhà nước mở con đường bê tông chạy qua thửa đất thì các bên mới xẩy ra tranh chấp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa đại diện Ủy ban nhân dân xã Đ trình bày: Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc là của ông Lê Văn T và năm 1993 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp sổ lâm bạ và có bản đồ kèm theo. Thửa đất mà nhà nước cấp cho ông T thuộc thửa đất số 02 còn thửa đất mà nhà nước cấp cho ông V thuộc thửa đất 06 tờ bản đồ số 321, hai thửa đất này hoàn toàn khác nhau. Do trước đây Ủy ban nhân dân xã T nay là xã Đ chưa tìm thấy sổ 05 và bản đồ 321 nên chưa xác định được chính xác vị trí thửa đất tranh chấp nhưng nay thì đã có những tài liệu này nên đã xác định được vị trí thửa đất trên thực địa. Vì vậy đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn, sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm số 05/2025/DS–ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T buộc bị đơn ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L trả lại diện tích 24.043,7m² đất, ông T có nghĩa vụ thanh toán phần cây cối do ông V đã trồng trên phần đất được trả lại cho ông T. Theo kết quả thẩm định, định giá thì 2.000 cây/ha; với giá 15.500đ/cây. Ông T có nghĩa vụ đưa lại cho ông V số tiền 74.524.000 đồng tương ứng với giá trị cây trồng trên 24.043,7m² đất và công nhận việc ông Lê Văn T giao lại cho ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L 10.000m² đất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1.]. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại khoản 2 và 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

[1.2].Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa cấp phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã cũng cấp thêm một số tài liệu chứng cứ mới, cụ thể: Bản sao sổ 05; Bản đồ 321, Sổ Lâm bạ mang tên Lê Văn T.

[1.3]. Về việc có mặt vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Võ Thị L vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho con trai là anh Đặng Văn Q1 đại diện tham gia phiên toà. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3.] Về nội dung:

[3.1]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về đề nghị cấp phúc thẩm xem xét thẩm định, định giá tài sản:

Sau khi Tòa cấp sơ thẩm xét xử, nguyên đơn ông Lê Văn T kháng cáo và đã cung cấp một số tài liệu chứng cứ mới gồm: Bản sao sổ 05 và bản sao bản đồ số 321. Đồng thời, anh Trần Thư Đ có đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thẩm định, định giá tài sản tranh chấp với lý do quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm do chưa hiểu biết quy định của pháp luật nên không yêu cầu định giá tài sản, hơn nữa qúa trình đo đạc thẩm định tại cấp sơ thẩm chưa có các tài liệu mới nên chưa xác định được chính xác vị trí thửa đất tranh chấp.

Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đơn yêu cầu thẩm định, định giá của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Thư Đ, Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy rằng việc xem xét thẩm định và định giá tài sản tranh chấp là cần thiết cho việc giải quyết triệt để vụ án.

Vì vậy, ngày 15/12/2025 Tòa cấp phúc đã tiến hành xem xét thẩm định, định giá tài sản đối với thửa đất và tài sản trên đất. Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định phần diện tích đất mà ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L hiện nay đang quản lý, sử dụng là 34.043,7m² (tăng 1.145,7m² so với kết quả thẩm định của cấp sơ thẩm). Vị trí thửa đất như sau: Phía Đông Bắc giáp đường bê tông dài 312,5m; phía T giáp đường đất dài 284,41m; phía Tây Nam giáp Khe đầm lầy dài 251,77m; phía Đông Nam giáp Khe đầm lầy dài 338,82m. Trên phần đất có trồng các cây Keo lá tràm, đường kính thân cây từ 4-6cm, mật độ 2000 cây/1ha. Ngoài ra không có cây trồng nào khác.

Về kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản cấp phúc thẩm: Tổng diện tích thửa đất 34.043,7m² thuộc thửa số 02, tờ bản đồ 321, địa chỉ: thôn S, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Giá đất rừng sản xuất là 6.600 đồng/1m² x 34.043,7m² = 224.688.420 đồng (Hai trăm hai mươi tư triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi đồng); Trên đất, có cây keo khoảng 02 năm tuổi đường kính từ 04 đến 06cm, mật độ 2000 cây/ha; đơn giá 15.500 đồng/cây; Diện tích 34.043,7m² = 6.808 cây x 15.500 đồng/cây = 105.524.000 đồng (Một trăm linh năm triệu năm trăm hai mươi tư nghìn đồng).

[3.2] Xét nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất:

Căn cứ công văn của Ủy ban nhân dân xã Đ, lời khai của nguyên đơn ông Lê Văn T và bị đơn ông Đặng Văn V thì thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc trước đây do lâm trường quản lý, sau đó thực hiện Nghị định 135/CP nhà nước tiến hành giao đất cho các hộ dân quản lý, trồng rừng

*Theo hồ sơ địa chính qua các thời kỳ thể hiện:

  • Sổ lâm bạ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp số 302 cấp ngày 10/01/1993 cho ông Lê Văn T được quyền sử dụng diện tích 5ha (50.000m²) đất rừng trồng tại thôn C, xã T, có vị trí giáp ranh: phía Đông giáp đất anh N, phía Tây giáp đất anh Đ1, phía Bắc giáp Đ và phía Nam giáp đường 70. Thời hạn sử dụng quản lý, sử dụng lâu dài (ít nhất 50 năm).
  • Sổ ruộng đất số 5, tờ bản đồ 321 xã T (nay là xã Đ) thể hiện: mục chủ sử dụng ruộng đất là ông Lê Văn T được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ 321 (bản đồ sử dụng đất Lâm nghiệp trước đây), tại khu vực K với diện tích 50.000m². Tài liệu kèm theo: Trích sao bản đồ thửa đất số 02, tờ bản đồ số 321 (Bản đồ lâm nghiệp năm 1995) và trích sao trang số 38, số 05.

[3.3.] Xét yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn:

Nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày năm 1993 gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho 5 ha đất rừng để sản xuất, theo sổ lâm bạ số 302 cấp ngày 10/01/1993, tại vùng L, xóm T, xã T (nay là xã Đ), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi nhận đất, gia đình ông đã sử dụng để trồng lúa bát và cây Bạch Đàn, cây K. Đến tháng 11/1998, gia đình ông chuyển vào Đắk Lắk sinh sống, thửa đất này ông giao lại cho ông Võ Đình T3 trông coi. Đến năm 2001, thì ông T3 thông báo cho ông biết về việc ông Đặng Văn V đã chiếm phần đất 05 ha của ông, nên ông đã trình báo lên UBND xã T và UBND xã T đã phối hợp phòng Tài nguyên và môi trường huyện C tổ chức hòa giải nhưng không thành, vì thế thửa đất xảy ra tranh chấp từ đó đến nay.

Bị đơn ông Đặng Văn V cho rằng Sổ lâm bạ mà ông Lê Văn T cung cấp cho Tòa án về địa chỉ thửa đất tại thôn C là sai, thửa đất đó trước đây là thôn V nay thay đổi là thôn A. Về ranh giới trong sổ lâm bạ mà ông T cung cấp sai hướng bởi tính từ mốc Đá Cổng thì đất của ông cách đất ông T khoảng 15ha. Sở dĩ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho gia đình của ông không đủ diện tích là do trước đây đo bằng tọa độ, không có máy móc như bây giờ nhưng mảnh đất của ông ranh giới không thay đổi, ông không lấn chiếm, không tranh chấp với ai xung quanh. Nguồn gốc diện tích đất rừng này là của ông Đặng Văn T5 (cha đẻ) để lại cho vợ chồng ông và gia đình ông đã sử dụng để trồng cây Bạch Đ3 và K lá T6 (trong đó cây Bạch Đàn 01 đợt, K lá Tràm 04 đợt). Vì vậy ông Đặng Văn V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả lại diện tích đất tranh chấp.

Qúa trình giải quyết vụ án ông Đặng Văn V xuất trình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt GCNQSD) không đề ngày tháng chỉ ghi năm 2000, thể hiện ông V được sử dụng 10.000m² đất tại thửa đất số 6, tờ bản đồ 321, thời hạn sử dụng đến 10/2050, mục đích sử dụng lâm nghiệp ao hồ, phần ghi thêm: Lầy Riềng, Lầy T7, rừng trồng+hồ. Giấy chứng nhận của ông Đặng Văn V (không có sơ đồ kèm theo). Tại sổ ruộng đất số 05, tờ bản đồ 321 xã T (nay là xã Đ) thể hiện: Chủ sử dụng ruộng đất là ông Đặng V được cấp quyền sử dụng đất trong thửa đất số 06, tờ bản đồ 321; có tổng diện tích 10.000m² (bản đồ Lâm nghiệp năm 1995). Hồ sơ cấp GCNQSD đất không còn lưu giữ.

Xét thấy, nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp trước đây là do Lâm trường quản lý, vào năm 1993, ông Lê Văn T được UBND huyện C cấp sổ Lâm bạ số 302/QĐ-UB ngày 10/01/1993. Theo công văn trả lời của UBND xã Đ thì thửa đất tranh chấp thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ 321, nay là thửa đất số 236, tờ bản đồ số 19 có vị trí tại thôn S, xã T nay là thôn S, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh chứ không phải là thôn A, xã Đ. Thửa đất này trước đây có nhiều tên gọi khác nhau như: K, L, Lầy R thuộc xóm T, xã T cũ và hiện nay đã được nhà nước cấp cho ông Lê Văn T sử dụng theo sổ lâm bạ số 302 (cấp ngày 10/01/1993). Hiện sổ lâm bạ chưa bị thu hồi bởi cơ quan có thẩm quyền, do đó Sổ Lâm bạ vẫn có giá trị pháp lý.

Bị đơn ông Đặng Văn V cho rằng thửa đất đang tranh chấp đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuộc quyền sử dụng của gia đình ông. Tuy nhiên, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ 05 mà ông Đặng Văn V cung cấp thì thửa đất mà ông được cấp thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ 321, diện tích 10.000 m², (còn thửa đất của nguyên đơn thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ 321, diện tích 50.000m²), hơn nữa trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông V không thể hiện vị trí, ranh giới thửa đất với các thửa đất liền kề. Theo bị đơn trình bày thì địa chỉ thửa đất trong Sổ lâm bạ mà nguyên đơn cung cấp là ở thôn C, xã T, huyện C cách thửa đất mà hiện nay bị đơn đang sử dụng gần 15 ha. Qua xem xét sổ lâm bạ cũng như ý kiến của chính quyền địa phương thì thửa đất tranh chấp được xác định là vùng K, L, L thuộc thôn T, xã T (cũ) nay là thôn S, xã Đ; mặt ngoài sổ lâm bạ ghi “Chủ rừng Lê Văn T thôn C, xã T, huyện C“ đây là địa chỉ cư trú của nguyên đơn ông Lê Văn T chứ không phải địa chỉ thửa đất như ý kiến của bị đơn. Vì vậy, chưa đủ căn cứ khẳng định thửa đất tranh chấp là thửa đất đã được nhà nước cấp cho ông Đặng Văn V.

Sở dĩ Tòa cấp sơ thẩm cho rằng không có căn cứ để xác định diện tích 05ha đất rừng đã giao cho ông Lê Văn T nằm ở đâu, cũng như chưa có căn cứ xác định được vị trí thửa đất tranh chấp đã giao cho ông Lê Văn T là thửa đất mà hiện nay ông V, bà L đang sử dụng, là vì thời điểm đó xã T cũ chưa cung cấp được các tài liệu hồ sơ để xác định được vị trí thửa đất tranh chấp. Mặt khác, theo kết quả thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định vị trí thửa đất đang tranh chấp hiện nay do ông V sử dụng có ranh giới như sau: phía Bắc và Đông Bắc giáp đường 70; phía Bắc và T8 bắc giáp đường đất; Phía Đông giáp khe và đầm lầy là phần đất của anh N; phía Nam giáp khe cạn, qua khe cạn là phần đất của anh Đ1. Đối chiếu vị trí các hướng được ghi trong sổ lâm bạ số 302 cấp ngày 10/01/1993 cho ông Lê Văn T: phía Đông giáp đất anh N, phía Tây giáp đất anh Đ1, phía Bắc giáp Đ và phía Nam giáp đường G thì ranh giới thể hiện trên sổ lâm bạ có giá trị xác định hướng thửa đất chứ không phải xác định ranh giới tiếp giáp chính xác. Mặc dù, các hướng giáp ranh (Đ, T8, Nam, Bắc) của thửa đất theo sổ Lâm bạ và theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ không trùng khớp với nhau, nhưng ranh giới của thửa đất đang tranh chấp là trùng khớp với nhau (đều giáp ranh với đường 70, phần đất của anh Đ1, anh N). Do đó, trên cơ sở sổ 05, bản đồ 321 mà nguyên đơn mới cung cấp tại cấp phúc thẩm có căn cứ xác định thửa đất mà ông Lê Văn T được UBND huyện C giao là thửa đất mà hiện nay gia đình ông V và bà L đang sử dụng trồng cây.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Thư Đ đã thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện cụ thể: Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích 24.043,7m², còn lại diện tích 10.000 m² đất nguyên đơn có nguyện vọng giao lại cho bị đơn quản lý sử dụng vì bị đơn cũng có một phần công sức trong việc quản lý, bảo vệ thửa đất. Xét thấy việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem xét chấp nhận.

Từ những căn cứ và phân tích nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn T sửa bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T buộc bị đơn ông Đặng Văn V phải trả lại thửa đất tranh chấp với diện tích 24.043,7m² ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn T về việc giao lại cho ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L diện tích 10.000m² còn lại.

[4.]. Về yêu cầu xem xét công sức bảo vệ, tôn tạo thửa đất:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Đặng Văn V yêu cầu được tính công sức tôn tạo bảo quản thửa đất tranh chấp. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy rằng trong quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp bị đơn đã được hưởng lợi từ việc trồng cây trên đất, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn không yêu cầu cũng như không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh công sức tôn tạo, bảo quản thửa đất vì vậy cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét.

[5.]. Về tài sản trên đất: Trên phần diện tích đất được trả lại cho nguyên đơn thì bị đơn ông Đặng Văn V đã trồng cây Keo lá Tràm với mật độ 2000 cây/ha. Vì thế đối với diện tích 24.043,7m² được trả lại thì tương ứng với số cây Keo lá Tràm trên đất 2000 cây/ha = 4.808 cây, đây là tài sản gắn liền với đất không thể di dời vì số lượng quá nhiều và sẽ ảnh hưởng đến sự sống của cây, hơn nữa khi trồng cây trên đất ông T không có ý kiến gì, do đó cần áp dụng Điều 583 BLDS buộc ông Lê Văn T phải thanh toán giá trị cây trồng cho ông Đặng Văn V. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự thì 01 cây Keo lá Tràm trị giá 15.500 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định trị giá tính thành tiền cụ thể số cây Keo Tràm gắn liền với phần diện tích đất mà ông Lê Văn T được trả lại là 4.808 cây x 15.500 đồng = 74.524.000 đồng (Bảy mươi tư triệu năm trăm hai mươi tư nghìn đồng)

[6.] Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Chi phí thẩm định và định giá tài sản tại cấp phúc thẩm với tổng số tiền là 12.300.000 đồng. Số tiền này nguyên đơn đã bỏ ra và đã chi phí hết. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Thư Đ tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản, vì thế Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

[7.] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đặng Văn V tự nguyện nộp thay phần án phí mà bà Võ Thị L phải chịu. Vì vậy, buộc ông Đặng Văn V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[8.] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn T được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Đối với phần án phí chia tài sản ông Lê Văn T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí chia tài sản cho ông Lê Văn T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn T sửa Bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 579, Điều 580, Điều 583 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 14, Điều 15, Điều 41 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Điều 25, Điều 26 Luật Đất đai năm 1987; các Điều 26, 27, 37, 137 và Điều 236 của Luật đất đai năm 2024; Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

[1.] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T.

  • - Buộc ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L phải trả lại cho ông Lê Văn T phần đất có ký hiệu S1 diện tích 24.043,7m² (Hai mươi tư nghìn không trăm bốn mươi ba phẩy bảy mét vuông) thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ 321 nay là thửa đất số 236, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: thôn S, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Trên đất có cây trồng là cây Keo lá tràm.
  • - Giao cho ông Đặng Văn V và bà Võ Thị L được quyền quản lý, sử dụng thửa đất có ký hiệu S2 diện tích 10.000m² (Mười nghìn mét vuông), thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ 321 nay là thửa đất số 236, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: thôn S, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Trên đất có cây trồng là cây Keo lá tràm.

[2.] Về giá trị tài sản trên đất: Buộc ông Lê Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Đặng Văn V số tiền 74.524.000 đồng (Bảy mươi tư triệu năm trăm hai mươi tư nghìn đồng) tương ứng với 4.808 cây Keo lá tràm là tài sản trên đất.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Phần đất chia cho các đương sự quản lý, sử dụng có sơ đồ kèm theo là một phần không tách rời bản án.

[3.] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đặng Văn V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Miễn án phí dân sự chia tài sản cho ông Lê Văn T.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TA, VKS, THA khu vực 3- Hà Tình
  • - Các đương sự;
  • - Người đại diện đương sự;
  • - Luật sư;
  • - Lưu HSVA, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khắc Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 04/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Lê Văn Tứ sinh năm 1963, địa chỉ số 106 đường Hoàng Quốc Việt, phường Buôn Hồ, tỉnh Đak Lak và bị đơn Đặng Văn Việt, sinh năm 1970, địa chỉ thôn Anh Hùng, xã Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger