Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/DS-PT

Ngày: 09 - 01 - 2026

V/v: “Tranh chấp đòi quyền

sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công
Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Biền
Bà Trần Thị Sâm

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà:

Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2025/TLPT- DS ngày 21/10/2025 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất” do bản án sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2025/QĐPT-DS ngày 26/12/2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đại Đ (tức Nguyễn Văn Đ1), sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; có mặt
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; có mặt
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Công H (tức Nguyễn Văn H1), sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt
    2. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1954; Địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị N là ông Nguyễn Đại Đ (tức Nguyễn Văn Đ1), sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; có mặt

  • 3. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị T là ông Nguyễn Công H, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt

  • 4. Bà Đặng Thị H2, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị H2 là ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm A thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; có mặt

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Đại Đ đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Gia đình ông hiện đang quản lý sử dụng thửa đất 1874 tờ bản đồ số 5, tại xã T, huyện N (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) đã được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nam Hà cấp giấy chứng nhận quyền sử đất ngày 05/10/1995 có diện tích 292m² tên Nguyễn Đại Đ (tức Nguyễn Đại Đ). Nguồn gốc đất là của bố mẹ đẻ ông cụ Nguyễn Văn H3 và cụ Đoàn Thị K tặng cho. Từ năm 1976 khi ông xây dựng gia đình, bố mẹ ông đã muốn cắt đất cho vợ chồng ông để xây nhà. Đến năm 1989 khi bố mẹ ông đều còn sống thì bố mẹ ông đã cắt cho vợ chồng ông thửa đất và đã được ban đo đạc đất của huyện N và xã về đo đạc ngay năm đó. Thửa đất có các cạnh: cạnh phía Nam giáp với cạnh phía Bắc thửa đất 1873 nhà ông H, cạnh phía Bắc giáp thổ đất nhà ông H4 thuộc thửa 1875, cạnh phía Tây giáp với thửa đất hộ bà C thuộc thửa 1877 và cạnh phía Đông giáp đường liên thôn. Đến năm 1995 thì vợ chồng ông được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi bố mẹ ông cho đất đến nay vợ chồng ông đã xây nhà và sử dụng ổn định từ đó. Quá trình sử dụng đất anh em trong gia đình không ai có ý kiến gì và cũng không có xảy ra tranh chấp với các hộ liền kề xung quanh. Sau khi bố mẹ cho đất, năm 1992 thì vợ chồng ông xây nhà mái bằng một tầng. Đến năm 2023 nhà mái bằng một tầng xuống cấp nên gia đình ông có phá đi và xây nhà mới hai tầng khoảng 150m² như hiện nay và công trình phụ khép kín.

Đến năm 2018, gia đình ông Nguyễn Văn B đang ở nhà trên thửa đất của gia đình ông Nguyễn Công H có xây thêm gian nhà bán mái mái lợp tôn và công trình phụ giáp với cạnh phía Nam thửa đất nhà ông. Ông B đã xây lấn sang đất nhà ông khoảng 35m² thì xảy ra tranh chấp. Khi gia đình ông B xây thêm nhà bán mái mái lợp tôn này ông không muốn anh em phải to tiếng với nhau, ông có nói chuyện với ông B và con trai ông B là đã xây lấn sang phần đất của gia đình

ông, anh em đã nói chuyện với nhau nhưng không được. Lúc đó ông bị tai biến phải đi viện ở nhà gia đình ông B vẫn tiếp tục xây nhà, khi ông đi viện về thì ông B đã xây nhà xong. Sau đó ông đã làm đơn gửi ra xã để hòa giải hai lần nhưng không thành.

Quá trình giải quyết vụ án, ông đã được Tòa án thông báo cho biết số liệu đo đạc hiện trạng đối với thửa đất 1874 của gia đình ông do Công ty  vẽ ngày 17/6/2025 và kết quả định giá đất và các tài sản gắn liền với đất ông hoàn toàn nhất trí. Theo số liệu đo vẽ của công ty Â1 thì hiện trạng thửa đất 1874 của gia đình ông có tổng diện tích là 208m², thiếu 84 m² đất so với giấy chứng nhận được cấp là 292 m². Tuy nhiên, quá trình sử dụng đất từ trước tới nay gia đình ông không có chuyển nhượng đất cho ai. Cạnh phía Bắc giáp thổ đất nhà ông H4 thuộc thửa 1875, cạnh phía Tây giáp với thửa đất hộ bà C thuộc thửa 1877 đều không có xảy ra tranh chấp gì. Còn cạnh phía Đông giáp đường liên thôn trước kia là đường nhỏ có rãnh thoát nước. Khoảng năm 2021 khi nhà nước cùng với chính quyền địa phương và các hộ dân sinh sống thống nhất làm đường liên thôn và xây cống ngầm như hiện nay và do thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới thì khi làm đường liên thôn có thể bị thụt vào đất của gia đình ông nhưng không đáng kể và có thể quá trình sử dụng các cạnh có sự xê dịch nhưng diện tích bị xê dịch cũng không nhiều.

Theo sơ đồ trích đo hiện trạng thửa đất thì hiện nay gia đình ông B đang sử dụng diện tích 55 m² ký hiệu S3 tại vị trí gia đình ông B xây nhà bán mái (cấp 4) mái lợp tôn là thuộc diện tích đất nhà ông tại thửa 1874 vì theo giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính thì thửa đất nhà ông có cạnh phía Nam giáp với cạnh phía Bắc nhà ông H.

Nay ông khởi kiện yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn B phải trả lại phần đất mà gia đình ông B đã lấn chiếm và sử dụng sang đất nhà ông theo số liệu đo đạc của công ty  vẽ ngày 17/6/2025, có tổng diện tích là 55m² ký hiệu S3. Ông yêu cầu gia đình ông Ba P phá dỡ công trình nhà bán mái (cấp 4) mái lợp tôn và công trình phụ để trả lại đất cho gia đình ông. Ông nhất trí nhận sự ủy quyền của bà Vũ Thị N, bà N cũng nhất trí cùng quan điểm của ông.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Nguyễn Văn B đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị H2 trình bày: Gia đình ông đang sử dụng thửa đất có cạnh phía Bắc giáp với cạnh phía Nam thửa đất nhà ông Đ; cạnh phía Nam giáp đất nhà ông Nguyễn Công H; cạnh phía Đông giáp đường đi của xóm; cạnh phía Tây giáp đất nhà ông C và bà Q. Trên đất nhà ông có một nhà mái bằng hai tầng xây năm 2016 khoảng 80m² công trình phụ khép kín; một nhà cấp 4 ban mái khoảng 40m² xây khoảng năm 2018 xây trên nền diện tích nhà cũ của bố mẹ ông (cụ H3, cụ K), hiện nay vẫn còn 1 gian nhà cũ của bố mẹ ông, ông cải tạo thành nhà bếp, nhà vệ sinh và nhà

tắm gia đình ông đang sử dụng. Nguồn gốc thửa đất của gia đình ông đang sử dụng là của bố mẹ ông cắt cho vợ chồng ông từ năm 1990. Khi bố mẹ ông còn sống có cho đất vợ chồng ông nhưng chỉ nói cho bằng miệng chứ không có văn bản giấy tờ gì. Anh em trong gia đình cũng không có ai ký giấy tờ gì vì lúc đó anh em hòa thuận bố mẹ đã phân cho ông Đ và ông H phần diện tích đất mà ông Đ và ông H đang sử dụng như hiện nay. Còn gia đình ông được bố mẹ phân cho phần diện tích đất có phần nhà của bố mẹ tại vị trí đất mà gia đình ông đang sử dụng như hiện nay gồm có 01 nhà hai tầng và 01 nhà bán mái (cấp 4) mái lợp tôn. Sau khi được bố mẹ cho đất thì bố mẹ ông ở cùng vợ chồng ông luôn trên phần diện tích đất bố mẹ cho. Quá trình sử dụng đất anh em trong gia đình không có tranh chấp hay ý kiến gì. Phần diện tích đất bố mẹ cho gia đình ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất tại thửa đất này. Đến năm 2023 ông được Ủy ban nhân dân xã T1 lên làm việc, về việc ông Đ nói rằng gia đình ông lấn chiếm đất của gia đình ông Đ. Ủy ban xã đã giải quyết nhưng không thành. Nay ông Đ khởi kiện ông tại Tòa án, quá trình giải quyết vụ án ông đã được Tòa án thông báo cho biết số liệu đo đạc hiện trạng của công ty TNHH Â1 đối với các diện tích nhà đất của gia đình ông, gia đình ông Đ và gia đình ông H. Ông hoàn toàn nhất trí số liệu đo đạc của công ty TNHH Â1 đo đạc ngày 17/6/2025 và kết quả định giá đất và các tài sản gắn liền với đất, ông không có ý kiến gì.

Tuy nhiên, theo số liệu đo đạc hiện trạng thể hiện phần diện tích ký hiệu S3= 55m², trên đất có ngôi nhà bán mái lợp mái tôn và công trình phụ theo số đo thì ngôi nhà này nằm trên diện tích đất tại thửa 1874 của gia đình ông Đ. Việc này ông không rõ. Ông không biết là nhà ông nằm trên thửa đất nào, ông chỉ biết gia đình ông xây nhà và ở trên thửa đất mà bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông. Còn bây giờ sau khi đo đạc thể hiện nhà của gia đình ông nằm trên thửa đất nhà ông H và nhà ông Đ thì ông không biết. Bố mẹ cho đất cả ba anh em nhưng ông không biết như thế nào mà ông Đ và ông H lại đi làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông thì không có tên trong giấy chứng nhận.

Nay ông Đ cho rằng gia đình ông xây nhà bán mái lợp tôn theo số liệu đo đạc của công ty Â1 có diện tích 55m² ký hiệu S3 thuộc thửa đất 1874 của nhà ông Đ, ông Đ khởi kiện yêu cầu gia đình ông phải trả lại phần diện tích đất này và yêu cầu phải tháo dỡ phần công trình nhà bán mái lợp tôn, công trình phụ để trả lại đất cho gia đình ông Đ, ông không đồng ý. Ông chỉ biết là vợ chồng ông xây nhà và sử dụng đất của gia đình ông khi bố mẹ cho từ trước tới nay. Ông không lấn chiếm đất của gia đình ông Đ, ông đề nghị Tòa án xem xét hòa giải cho anh em ông nếu hòa giải được đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho ông. Ông nhất trí nhận sự ủy quyền của bà Đặng Thị H2, bà H2 cũng nhất trí cùng quan điểm của ông. Ngoài ra, ông không có yêu cầu

phản tố hay đề nghị gì khác.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Công H trình bày:

Hiện nay gia đình ông đang quản lý và sử dụng thửa đất 1873 tờ bản đồ số 5 xã T, huyện N, tỉnh Nam Định có diện tích 222m². Nguồn gốc thửa đất của gia đình ông là do bố mẹ đẻ ông là cụ Nguyễn Văn H3 và cụ Đoàn Thị K cho vợ chồng ông khi ông xây dựng gia đình từ năm 1988. Đến năm 1995 thì vợ chồng ông được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Nguyễn Văn H1 (tức Nguyễn Công H). Thửa đất có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường đi của làng, phía Tây giáp thửa đất của gia đình ông C, phía Nam giáp đường dong xóm, phía Bắc giáp thổ đất của gia đình ông Đ. Năm 1998 thì vợ chồng ông xây nhà mái bằng 1 tầng và công trình phụ khép kín, đến năm 2023 do nhà mái bằng xuống cấp thì gia đình ông đã phá nhà mái bằng 1 tầng đi và xây dựng nhà mới mái bằng 3 tầng và công trình phụ khép kín như hiện nay. Từ khi được bố mẹ cho đất gia đình ông sử dụng ổn định từ trước tối nay. Thửa đất của gia đình ông và thửa đất của gia đình ông Đ trước đây toàn bộ là thửa đất của bố mẹ ông. Trước đó khi còn sống bố mẹ ông đã cắt đất chia làm hai phần cho gia đình ông và gia đình ông Đ. Đến năm 1995 thì gia đình ông và gia đình ông Đ được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Còn ông Nguyễn Văn B, đã cùng vợ con đi xây dựng kinh tế mới ở M từ khoảng năm 1983, đến năm 1990 thì ông Ba cùng vợ con về thì ở trên nhà cũ của bố mẹ ông, ngôi nhà của bố mẹ ông nằm ở giữa thửa đất của ông và thửa đất của gia đình ông Đ nhưng toàn bộ nhà cũ của bố mẹ ông nằm trên thửa 1873 tờ bản đồ số 5 là thửa đất của gia đình ông. Đến khoảng năm 1992-1993 thì gia đình ông B lại chuyển nhà đến xã N để ở (nhà bố mẹ vợ ông B). Sau đó khoảng năm 1997-1998 thì gia đình vợ chồng con cái nhà ông B lại trở về xã T nhưng ông B mua nhà ở cuối thôn N để ở. Sau đó ông B lại bán nhà và trở về nói với ông để được ở lại nhà của bố mẹ ông trên đất của gia đình ông. Để tránh xảy ra mâu thuẫn và giữ tình cảm anh em ông đã nhất trí cho vợ chồng ông B về ở trên ngôi nhà của bố mẹ ông giáp với cạnh phía Tây thửa đất nhà ông Đ. Năm 1998 ông xây nhà thì khoảng năm 2000 ông B cũng phá hẳn nhà cũ của bố mẹ và xây nhà cấp 4 để ở, hiện nay nhà cấp 4 gia đình ông B xây gia đình ông B vẫn đang sử dụng. Lúc gia đình ông B xây nhà thì gia đình ông đi làm ở M và Hà nội nên khi về thì đã thấy vợ chồng ông B xây nhà trên thửa đất 1873 của nhà ông. Quá trình ông B xây nhà cấp 4 mới để ở, anh em ông không muốn xảy ra tranh chấp và mâu thuẫn và vì nghĩ tình cảm anh em ông vẫn để gia đình ông B ở nhưng thực tế là gia đình ông B đang ở trên đất nhà ông. Ông chỉ để cho gia đình ông B ở chứ không cắt đất cho hay tách thửa đất cho gia đình ông B. Còn phía ông B trình bày khi bố mẹ còn sống có cho đất vợ chồng ông B tại vị trí nhà mà vợ chồng ông B đang ở là không đúng. Thửa đất mà gia đình ông và gia đình ông Đ

đang sử dụng là của bố mẹ ông đã cắt chia cho ông và ông Đ. Hai gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1995. Chứ ông Ba K1 được bố mẹ cho vì lúc đó vợ chồng con cái ông B đi làm kinh tế mới trong Lâm Đồng nên bố mẹ tôi nghĩa là nghiệp trong đó. Còn ở nhà lúc đó có anh trai là Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị H5 và em gái là Nguyễn Thị N1 đều nhất trí không có ai ý kiến gì. Đến nay cũng thế, không ai có ý kiến gì.

Qúa trình gia đình ông B ở và sử dụng đất xây sửa như nào ông không biết. Nay ông Đ có đơn khởi kiện ông B về việc tranh chấp đất ông cũng không biết, ông không có liên quan gì, ông chỉ mong anh em làm sao giữ được tình cảm đôi bên. Còn gia đình ông vẫn để cho gia đình ông B sử dụng đất để ở tại vị trí ông Ba xây nhà hai tầng, vợ chồng ông không cắt đất cho hay tách thửa đất cho vợ chồng ông B. Ông hoàn toàn nhất trí số liệu đo đạc của công ty TNHH Â1 đo đạc ngày 17/6/2025 và kết quả định giá đất và các tài sản gắn liền với đất mà Tòa án đã thông báo, ông không có ý kiến gì.

Phía vợ ông bà Đỗ Thị T hiện nay vì lý do đi vào ở nhà con trai tại N, Thanh Hóa không thể lên Tòa làm việc được nên có ủy quyền cho ông, ông nhất trí nhận sự ủy quyền của bà T, sẽ thay mặt bà T làm việc tại Tòa án và nhận các giấy tờ tài liệu của Tòa án. Ông và bà T đồng nhất quan điểm. Vì lý do bận công việc nên ông có ý kiến xin vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử.

Về giá trị quyền sử dụng đất: Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện N ngày 17/6/2025 thì 01m² đất ở tại vị trí đang tranh chấp có trị giá 2.500.000đồng.

Từ nội dung vụ án như trên, bản án số: 12/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 159, 166, 167 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Điều 147, 156, 157, 165, 166, 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 99, 100, 170, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đại Đ (tức Nguyễn Văn Đ1) về việc tranh chấp đòi quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn B và bà Đặng Thị H2.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Đặng Thị H2 phải trả cho ông Nguyễn Đại Đ và bà Vũ Thị N diện tích 55m² đất ở lấn chiếm thuộc thửa số 1874 tờ bản đồ số 5 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 206760 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ1 (tức Nguyễn Đại Đ). Được xác định giới hạn bởi các điểm mốc (5,6,9,10,19,5) ký hiệu S3, có vị trí: Cạnh phía Đông giáp đường liên thôn dài

2,79m; Cạnh phía Tây giáp với thửa đất hộ bà C dài 3,04m; cạnh phía Nam giáp S1 dài 19,31m, Cạnh phía Bắc giáp thửa đất gia đình ông Đ đang sử dụng dài 18,81m.

  1. Ông Nguyễn Đại Đ và bà Vũ Thị N được quyền sử dụng diện tích 55m² đất ở, được xác định giới hạn bởi các điểm mốc (5,6,9,10,19,5) ký hiệu S3 và diện tích 208m² đất ở đều thuộc thửa số 1874 tờ bản đồ 5, được xác định giới hạn bởi các điểm mốc (1,2,3,4,5,6,7,8,1), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 206760 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ1 (tức Nguyễn Đại Đ) do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nam Hà cấp giấy chứng nhận quyền sử đất ngày 05/10/1995.
  2. Buộc ông B và bà H2 phải tháo dỡ và di dời: 01 nhà bán mái giáp đất nhà ông Đ, tường xây 220 gạch tuynel, mái lợp tôn cửa sắt xếp; Kích thước: 2,9 x4,7 cao 3,4m và công trình phụ sau nhà bán mái, tường xây gạch tuynel có ốp lát mái bằng Bê tông cốt thép, kích thước: 2,9 x4,1 cao 2,8m của gia đình ông B xây dựng nằm trên thửa đất 1874, tờ bản đồ số 5 xã T thuộc thửa đất của gia đình ông Nguyễn Đại Đ để trả lại đất cho ông Đ và bà N. Thời gian tháo dỡ trong thời hạn 06 tháng; Ông Đ và bà N phải thanh toán cho ông B và bà Hợp số tiền chi phí tháo dỡ di dời là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
  5. Về nghĩa vụ bàn giao: Các đương sự đang quản lý, sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm bàn giao cho nhau sử dụng diện tích đất được xác định theo quyết định của bản án.
  6. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đại Đ nhận nộp toàn bộ chi phí tố tụng. Xác nhận ông Đ đã nộp tiền tạm ứng và đã thanh toán xong chi phí tố tụng.
  7. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Đại Đ, bà Vũ Thị N, ông Nguyễn Văn B và bà Đặng Thị H2 do thuộc đối tượng là người cao tuổi;

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền, nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự.

Ngày 10/9/2025, ông Nguyễn Văn B kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm: Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Ông B sửa đổi yêu cầu kháng cáo, ông B đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Đ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyền về tố tụng của đương sự được bảo đảm.

Về nội dung giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm số:12/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B được làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại Điều 272; Điều 273; Điều 276 BLTTDS. Tại phiên toà phúc thẩm ông B thay đổi yêu cầu kháng cáo nhưng không vượt quá yêu cầu kháng cáo ban đầu nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng phúc thẩm.

[1.1] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N, bà Đặng Thị H2 vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo uỷ quyền; bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Công H vắng mặt tại phiên toà nhưng ông H và bà T không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất” là đúng pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bảo đảm được quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự.

[3] Về nội dung kháng cáo: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn và tại

phiên toà các đương sự đều khẳng định diện tích đất tranh chấp hiện nay là đất ở, thuộc một phần thửa đất số 1874, tờ bản đồ số 5 bản đồ địa chính xã T nay là xã N, tỉnh Ninh Bình.

[4] Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ cho thấy:

[4.1] Theo sơ đồ đo vẽ hiện trạng trên thực địa ngày 17/6/2025 của Công ty TNHH Â1, hiện nay gia đình ông B đang sử dụng nhà đất gồm diện tích đất ký hiệu S1 và S3: Diện tích đất ký hiệu S1=79m², được giới hạn bởi các điểm (10,11,18,19,10), có vị trí: Cạnh phía Đông giáp đường, dài 4,07m; Cạnh phía Tây giáp thửa 1877, dài 4,07m; Cạnh phía Bắc giáp diện tích đất đang tranh chấp (ký hiệu S3), dài 19,31m; Cạnh phía Nam giáp diện tích đất ông H sử dụng ký hiệu S2, dài 19,91m. Diện tích đất S1 này theo tờ bản đồ số 5 xã T nằm trên thửa số 1873, đất của gia đình ông Nguyễn Công H. Diện tích đất ký hiệu S3=55m², được giới hạn bởi các điểm (5,6,9,10,19,5), có vị trí: Cạnh phía Đông giáp đường liên thôn, dài 2,79m; Cạnh phía Tây giáp với thửa đất hộ bà C, dài 3,04m; Cạnh phía Bắc giáp phần đất gia đình ông Đ đang sử dụng thuộc thửa 1874, dài 18,81m; Cạnh phía Nam giáp phần đất ký hiệu S1, dài 19,31m. Diện tích đất S3 này theo tờ bản đồ số 5 xã T nằm trên thửa số 1874, đất của gia đình ông Nguyễn Đại Đ;

[4.2] Đối với thửa đất 1874: Bản đồ 299 lập năm 1986 là thửa đất số 501 tờ bản đồ số 1 có diện tích 240m² (đất ở). Bản đồ địa chính lập năm 1990 là thửa đất số 1874 tờ bản đồ số 5 có diện tích 292m² (đất ở) có tên chủ sử dụng là “Đào”. Bản đồ 1993 là thửa đất số 1874 có diện tích 292m² (đất ở) có tên chủ sử dụng là “Đào”. Bản đồ địa chính lập năm 1995 chính lý năm 2004 thửa đất số 1874 tờ bản đồ số 5 có diện tích 292m² (đất ở). Sổ địa chính năm 1995 có tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1957, tên vợ Vũ Thị N, nơi thường trú đội 4 HTX N, xã T. Đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 24/7/1995 có tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn Đ1, tên vợ Vũ Thị N. Ngày 05 tháng 10 năm 1995, hộ ông Nguyễn Văn Đ1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C206760, vào sổ cấp GCN số 1736, theo QĐ số 346/QĐUB trong đó có thửa đất 1874 tờ bản đồ số 5, diện tích 292m² đất ở. Trong sổ mục kê năm 2002 trang số 77, thửa số 1874 tờ bản đồ số 5, có tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn Đ1, có diện tích 292m² (đất ở).

[4.2] Đối với thửa đất 1873: Bản đồ 299 năm 1986 là thửa đất số 502 tờ bản đồ số 1 có diện tích 290m² (đất ở). Bản đồ địa chính lập năm 1990 là thửa đất số 1873 tờ bản đồ số 5 có diện tích 222m² (đất ở) có tên chủ sử dụng là “Hợi”. Bản đồ 1993 là thửa đất số 1873 tờ bản đồ số 1 có diện tích 222m² (đất ở) có tên chủ sử dụng là “Hợi”. Bản đồ địa chính lập năm 1995 chính lý năm 2004 thửa đất số 1873 tờ bản đồ số 5 có diện tích 222m² (đất ở). Sổ địa chính năm 1995 có tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966, tên vợ Đỗ

Thị T, nơi thường trú đội 4 HTX N, xã T. Đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 24/7/1995 có tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn H1, tên vợ Đỗ Thị T. Ngày 05 tháng 10 năm 1995, hộ ông Nguyễn Văn H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp GCN số 1751, theo QĐ số 346/QĐUB trong đó có thửa đất 1783 (giấy CNQSDĐ không ghi thửa 1873 mà ghi thửa 1783) tờ bản đồ số 5 diện tích 222m² đất ở. Trong sổ mục kê năm 2002 trang số 77, thửa số 1873 tờ bản đồ số 5, có tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn H1, có diện tích 222m² (đất ở).

[4.3] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thấy: Thửa đất số 1874, tờ bản đồ số 5 của gia đình ông Nguyễn Đại Đ theo sơ đồ đo vẽ trên thực địa ngày 17/6/2025 do Công ty TNHH Â vẽ hiện trạng hiện nay gia đình ông Đ thực tế đang sử dụng diện tích 208m², thiếu 84m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (292m²) ở cạnh phía Nam. Hiện nay phần diện tích đất đang có tranh chấp giữa ông Đ và ông B thuộc một phần của thửa 1874, tờ bản đồ số 5 cụ thể theo số liệu đo vẽ trên thực địa ngày 17/6/2025 do Công ty TNHH Â vẽ thể hiện phần diện tích có ký hiệu S3 = 55m², được giới hạn bởi các điểm (5,6,9,10,19,5). Phần diện tích S3 này do ông Nguyễn Văn B đang sử dụng. Trên diện tích đất ký hiệu S3 có: 01 nhà bán mái tường xây 220 gạch tuynel, tường quét vôi ve, mái lợp tôn, cửa sắt xếp có giá trị sử dụng còn 70% có trị giá 28.279.524 đồng; Công trình phụ sau nhà bán mái lợp tôn, tường xây gạch tuynel có ốp lát mái bằng bê tông cốt thép giá trị sử dụng còn 70% có trị giá 22.746.759 do gia đình ông B xây dựng và hiện nay vẫn đang sử dụng.

[5] Quá trình sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Đại Đ và ông Nguyễn Văn B như sau:

[5.1] Đối với diện tích đất ông Nguyễn Văn B sử dụng: Theo ông B trình bày, năm 1990, khi bố mẹ ông còn sống có cho đất vợ chồng ông nhưng chỉ nói cho bằng miệng chứ không có văn bản giấy tờ gì, anh em trong gia đình cũng không có ai ký giấy tờ gì. Lúc đó anh em hòa thuận, bố mẹ đã phân chia cho ông Đ, ông H1 và ông B phần diện tích đất mà các hộ đang sử dụng hiện nay. Gia đình ông đang sử dụng thửa đất có cạnh phía Bắc giáp với thửa đất nhà ông Đ; cạnh phía Nam giáp đất nhà ông H1; cạnh phía Đông giáp đường đi của xóm; cạnh phía Tây giáp đất nhà ông C và bà Q. Trên đất gia đình ông xây một nhà mái bằng hai tầng xây năm 2016 khoảng 80m² công trình phụ khép kín và một nhà cấp 4 (bán mái) khoảng 40m² và công trình phụ xây năm 1998 xây trên nền diện tích nhà cũ của bố mẹ ông (cụ H3, cụ K). Hiện nay vẫn còn 1 gian nhà cũ của bố mẹ ông, ông cải tạo thành nhà bếp, nhà vệ sinh và nhà tắm gia đình ông đang sử dụng. Quá trình sử dụng đất anh em trong gia đình không có tranh chấp hay ý kiến gì. Phần diện tích đất bố mẹ cho, vợ chồng ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất. Tuy nhiên theo như tài liệu, chứng cứ lưu giữ tại Ủy

ban nhân dân xã T thì không có tên hộ ông Nguyễn Văn B thể hiện trong hồ sơ địa chính. Giáp với phía Nam đất của hộ ông Đ, là thửa đất số 1873, tờ bản đồ số 5 mang tên ông H1.

[5.2] Đối với thửa đất 1874 hộ ông Nguyễn Đại Đ sử dụng: Theo ông Đ trình bày: Năm 1989 bố mẹ ông Đ là cụ Nguyễn Văn H3 và cụ Đoàn Thị K đã cho vợ chồng ông Đ thửa đất và đã được ban đo đạc đất của huyện N và xã về đo đạc ngay năm đó. Nay là thửa đất 1874 tờ bản đồ số 5, tại xã T, huyện N (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) và đã được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nam Hà cấp giấy chứng nhận quyền sử đất ngày 05/10/1995 có diện tích 292m² đất ở tên hộ ông Nguyễn Đại Đ (tức Nguyễn Văn Đ1). Thửa đất có các cạnh: cạnh phía Nam giáp với thửa đất 1873 nhà ông H1, cạnh phía Bắc giáp thổ đất nhà ông H4 thuộc thửa 1875, cạnh phía Tây giáp với thửa đất hộ bà C thuộc thửa 1877 và cạnh phía Đông giáp đường liên thôn. Phía Bắc, phía Tây đều đã được xây nhà và xác nhận mốc giới với nhau. Năm 1992 thì vợ chồng ông Đ1 đã xây nhà và quá trình sử dụng ổn định từ đó đến năm 2018 không có xảy ra tranh chấp với các hộ xung quanh.

[6] Xét lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn B, Hội đồng xét xử thấy:

[6.1] Theo ông B trình bày thì gia đình ông đang sử dụng phần đất được bố mẹ cho phần diện tích đất có nhà của bố mẹ tại vị trí đất mà gia đình ông đang sử dụng như hiện nay gồm có 01 nhà hai tầng và 01 nhà cấp 4 mái lợp tôn, công trình phụ. Phần diện tích đất bố mẹ ông cho vợ chồng ông đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất. Tuy nhiên, theo tài liệu, chứng cứ đã được thu thập thì không có tên hộ ông Nguyễn Văn B thể hiện trong hồ sơ địa chính đối với các phần diện tích đất có các công trình mà gia đình ông B đang sử dụng. Bản thân ông B khai khi bố mẹ ông cho đất vợ chồng ông cũng chỉ nói cho bằng miệng chứ không có văn bản giấy tờ, anh em trong gia đình cũng không có ai ký giấy tờ gì.

[6.2] Ông Nguyễn Công H là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 1873 tờ bản đồ số 5 xã T có diện tích 222m² có lời khai khẳng định: Thửa đất của gia đình ông H và thửa đất của gia đình ông Đ1 trước đây toàn bộ là thửa đất của bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn H3 và cụ Đoàn Thị K. Khi còn sống bố mẹ ông đã cắt đất chia làm hai phần cho gia đình ông và gia đình ông Đ1. Đến năm 1995 thì gia đình ông và gia đình ông Đ1 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn ông Nguyễn Văn B, đã cùng vợ con đi xây dựng kinh tế mới ở M từ khoảng năm 1983, đến năm 1990 thì ông Ba cùng vợ con về thì ở trên nhà cũ của bố mẹ ông, ngôi nhà của bố mẹ ông nằm ở giữa thửa đất của ông và thửa đất của gia đình ông Đ1 nhưng toàn bộ nhà cũ của bố mẹ ông nằm trên thửa 1873 tờ bản đồ số 5 là thửa đất của gia đình ông đã được

bố mẹ cho. Đến khoảng năm 1992-1993 thì gia đình ông B lại chuyển nhà đến xã N để ở (nhà bố mẹ vợ ông B). Sau đó khoảng năm 1997-1998 thì gia đình vợ chồng con cái nhà ông B lại trở về xã T nhưng ông B mua nhà ở cuối thôn N để ở. Sau đó ông B lại bán nhà và trở về nói với ông để được ở lại nhà của bố mẹ ông trên đất của gia đình ông đã được bố mẹ cho. Để tránh xảy ra mâu thuẫn và giữ tình cảm anh em ông đã nhất trí cho vợ chồng ông B về ở trên ngôi nhà của bố mẹ ông giáp với cạnh phía Nam thửa đất nhà ông Đ1.

[6.3] Việc ông B trình bày hiện gia đình ông đang sử dụng nhà đất tại phần diện tích đất có ký hiệu S3 là do bố mẹ đẻ ông cho vợ chồng ông nhưng ông Ba K1 đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự: Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

[7] Về yêu cầu của ông Nguyễn Đại Đ yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả lại đất, Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, hộ ông Đ đang quản lý sử dụng thửa đất số 1874, tờ bản đồ số 5 tại xã T, huyện N (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) đã được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nam Hà cấp giấy chứng nhận quyền sử đất ngày 05/10/1995 có diện tích 292m² . Cạnh phía Bắc giáp thổ đất nhà ông H4 thuộc thửa 1875, cạnh phía Tây giáp với thửa đất hộ bà C thuộc thửa 1877 đều không có xảy ra tranh chấp gì. Còn cạnh phía Đông giáp đường liên thôn trước kia là đường nhỏ có rãnh thoát nước. Khoảng năm 2021 khi nhà nước cùng với chính quyền địa phương và các hộ dân sinh sống thống nhất làm đường liên thôn và xây cống ngầm như hiện nay. Quá trình sử dụng đất từ trước tới nay gia đình ông không có chuyển nhượng đất cho ai. Theo kết quả đo hiện trạng sử dụng thửa đất số 1874 của hộ ông Đ có diện tích 208m², thiếu 84m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (292m²) thể hiện ở cạnh phía Nam. Theo hồ sơ địa chính thì cạnh phía Nam thửa đất của hộ ông Đ giáp với cạnh phía Bắc thửa đất của hộ ông Nguyễn Công H (Nguyễn Văn H1) thửa đất 1873, nay có sự thay đổi hiện nay lại giáp với diện tích đất ký hiệu S3=55 m² (theo số liệu đo đạc hiện trạng) thuộc thửa 1874 nhưng lại do gia đình ông Nguyễn Văn B đang sử dụng. Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn B phải trả lại phần đất mà gia đình ông B đã lấn chiếm và sử dụng sang đất nhà ông theo số liệu đo đạc của công ty  vẽ ngày 17/6/2025, có tổng diện tích là 55m² ký hiệu S3 là có căn cứ nên được cấp sơ thẩm chấp nhận là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về yêu cầu của ông Đ yêu cầu gia đình ông Ba P tháo dỡ toàn bộ nhà bán mái và công trình phụ xây dựng đã lấn sang phần đất của gia đình ông để trả lại phần đất lấn chiếm, Hội đồng xét xử thấy: Phía gia đình ông B trong thời

gian xây dựng nhà bán mái và công trình phụ, ông Đ đã có ý kiến là xây sang phần đất của gia đình ông nhưng gia đình ông Ba K1 dừng lại mà vẫn tiếp tục xây và hoàn thiện để sử dụng nhà. Do vậy, buộc gia đình ông Ba P tháo dỡ di dời toàn bộ các công trình trên đất để trả lại đất cho ông Đ. Để tạo điều kiện cho gia đình ông B có thời gian chuẩn bị, cấp sơ thẩm quyết định, trong thời hạn 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, gia đình ông Ba P tháo dỡ và di dời toàn bộ các công trình trên đất để trả lại đất cho gia đình ông Đ là phù hợp. Tại phiên tòa sơ thẩm ông Đ nhất trí tự nguyện hỗ trợ toàn bộ chi phí tháo dỡ di dời các công trình trên đất cho gia đình ông B nên cấp sơ thẩm chấp nhận việc vợ chồng ông Đ phải có trách nhiệm thanh toán phần chi phí tháo dỡ, di dời các công trình cho gia đình ông B là có căn cứ.

[9] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc đất và định giá tài sản, do nguyên đơn nhận nộp toàn bộ chi phí tố tụng, không yêu cầu bị đơn phải hoàn trả, xác nhận ông Đ đã nộp đủ tạm ứng và chi phí tố tụng.

[10] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn phải nộp phần án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông B và bà H2 là đối tượng người cao tuổi có đơn xin được miễn nộp án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Từ những phân tích đánh giá nêu trên, kháng cáo của ông Nguyễn Văn B không có cơ sở nên không được chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[12] Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn B.

[13] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn B.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND khu vực 9-Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Nam Hồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thành Công

14

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 04/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Văn B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger