Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 03/2026/HS-PT

Ngày 09-01-2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Đinh Trường Sơn và Bà Hoàng Ngọc Liễu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ - cơ sở 3 xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 126/2025/TLPT - HS ngày 30/10/2025, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ;

Bị cáo: Bùi Minh T, sinh ngày 11/12/1986 tại T, Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm O, xã M, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn C (đã chết) và bà Bùi Thị M, sinh năm 1964; vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1987; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền sự, tiền án: Không. Tạm giam, tạm giữ: Không (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

  • - Bị hại: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1986 (đã chết).
  • - Người đại diện hợp pháp của người bị hại: chị Bùi Thị L1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm O, xã M, tỉnh Phú Thọ.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị: Bùi Văn L2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Xóm O, xã M, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/02/2025, Bùi Minh T, sinh năm 1986 cùng với Bùi Văn L, sinh năm 1986; Bùi Thị L1, sinh năm 1987; Bùi Văn L3, sinh năm 1990; Bùi Thị H1, sinh năm 1994; Bùi Văn Đ, sinh năm 1996; Bùi Văn T1, sinh năm 1975 cùng trú tại xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm O, xã M, tỉnh Phú Thọ) đi cắt keo thuê cho anh Bùi Văn L2, sinh năm 1993, trú tại xóm O, xã M, tỉnh Phú Thọ tại đồi Cuông thuộc địa phận xóm O, xã M, tỉnh Phú Thọ. Trước đó, anh L2 có giao cho T và anh L mỗi người một chiếc cưa máy chạy bằng động cơ xăng phụ trách việc cắt hạ cây keo và các loại cây gỗ khác. Còn những người khác thực hiện việc bốc, xếp cây lên xe ô tô sau khi T, anh L cắt hạ và cắt khúc thân cây thành từng đoạn.

Đến khoảng hơn 16 giờ cùng ngày, T dùng cưa máy để cắt một cây gỗ tạp có đường kính gốc khoảng 50cm ở gần đường đất tự mở bên tay trái hướng từ ngoài đi vào, còn anh L đang cắt cây keo bên kia đường đối diện chỗ T chuẩn bị cắt hạ cây gỗ cách khoảng 15m. Trước khi cắt cây gỗ đó, T có chủ động nói với anh L tránh vị trí mà anh L đang đứng cắt cây keo ra vì T sẽ cắt cây đổ về phía đường. Dù không biết anh L có nghe thấy hay không vì anh L không trả lời lại, nhưng T vẫn xuống cắt cây luôn. Khi T cắt cây gỗ bắt đầu đổ về phía đường thì anh L vẫn đang đứng ở vị trí cũ mà chưa di chuyển đi chỗ khác. T hô to "Chạy đi cây đổ đấy", cùng lúc mọi người có mặt gần đấy cũng hô lên cây đổ để cùng nhau tránh. Bản thân anh L lúc đó cũng nghe thấy lời hô hoán của T và còn kêu chị L1 "Chạy đi, chạy đi". Tuy nhiên, khi cây đổ, anh L chỉ đứng yên tại chỗ nhìn về phía cây đổ. Khi cây đổ gần đến vị trí anh L đứng thì anh L mới di chuyển nhưng không kịp.

Sau khi cây đổ vào người anh L, T cùng mọi người có mặt ở đó chạy lên thì nhìn thấy anh L bị cành cây có đường kính khoảng 10cm đè vào vùng đầu. T liền cắt cành cây và cùng mọi người đưa anh L ra. Vùng đầu của anh L bị chảy nhiều máu, biến dạng và anh L đã ngừng thở. Mọi người khiêng anh L về nhà, đồng thời báo cáo vụ việc cho chính quyền địa phương biết, còn T chủ động cầm theo cưa máy dùng để cắt cây lên Công an xã S, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là Công an xã M, tỉnh Phú Thọ) để đầu thú và khai báo toàn bộ nội dung vụ việc.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 143/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 21/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

“1. Các kết quả chính: Nạn nhân bị chấn thương vùng đầu, mặt, cổ, ngực do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương: Vỡ xương hộp sọ, xương sống mũi, xương gò má, xương hàm, mặt biến dạng và nhiều vết xây sát, rách da, bầm tím trên cơ thể nạn nhân.

2. Kết luận: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não”

Tại bản án sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của TAND khu vực 15, tỉnh Phú Thọ quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Vô ý làm chết người”

Xử phạt bị cáo Bùi Minh T 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/09/2025).

Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chế định án treo, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 24/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định kháng nghị số 173/KN-VKSPT-P7 với nội dung:

Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ đã xét xử Bùi Minh T về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. tuy nhiên trong vụ án này nhận thấy cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, thể hiện: Bùi Văn L2 là người sử dụng lao động, đã thuê nhiều người, trong đó có anh T và anh L trực tiếp chặt cây, cưa cây ra từng đoạn cho L2, L2 đã không huấn luyện an toàn lao động cho người lao động để cấp thẻ an toàn cho họ trước khi giao cho những người này làm trực tiếp chặt, cưa gỗ nên khi thực hiện T đã thiếu kiến thức trong việc bảo vệ, bảo đảm an toàn cho người xung quanh khi chặt cây dẫn đến việc cây đổ làm anh L chết. Mặc dù anh L chết không phải là hậu quả trực tiếp từ hành vi của L2 gây ra nhưng Li gián tiếp phải chịu hậu quả của vụ việc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm đối với Bùi Văn L2.

Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/ HSST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ để điều tra lại.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Trong vụ án này, Bùi Văn L2 đã không huấn luyện an toàn lao động cho Bùi Văn T2, anh Bùi Văn L và những người lao động khác để cấp thẻ an toàn cho họ trước khi giao cho những người này làm trực tiếp chặt, cưa gỗ. Do không được trang bị kiến thức về an toàn lao động nên khi thực hiện công việc, Bùi Văn T2 đã thiếu kiến thức trong việc bảo vệ, bảo đảm an toàn cho những người xung quanh khi chặt hạ cây, nên khi T2 nói với anh L (đứng cách T2 15m) tránh vị trí mà anh L đang đứng ra vì T2 sẽ cắt cây đổ về phía đường, anh L không trả lời và không di chuyển khỏi vị trí đang đứng, T2 không biết anh L có nghe thấy không, nhưng cũng không tiếp tục nhắc nhở để bảo đảm an toàn cho anh L mà vẫn thực hiện việc chặt cây dẫn đến việc cây đổ trúng vào đầu anh Bùi Văn L dẫn đến tử vong. Trong hồ sơ vụ án, không có tài liệu chứng minh ý kiến hoặc kết luận của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền về hành vi của Bùi Văn L2.

Hành vi của Bùi Văn L2 có dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự. Các tài liệu có trong hồ sơ là chưa đầy đủ, cần điều tra, xác minh thêm để làm rõ hành vi của Bùi Văn L2. Tuy nhiên, xét thấy việc xem xét trách nhiệm hình sự của Bùi Văn L2 không cần thiết giải quyết trong cùng vụ án với Bùi Minh T và để bản án hình sự sơ thẩm có tính ổn định, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi phạm tội của Bùi Văn L2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15- tỉnh Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị bản án trong thời hạn luật định.

[2] Xét kháng nghị:

2.1. Trong vụ án này: Bùi Minh T, cùng với Bùi Văn L, Bùi Thị L1; Bùi Văn L3, Bùi Thị H1, Bùi Văn Đ; Bùi Văn T1 (07 người), cùng trú tại xóm O, xã S, huyện T, đi cắt keo thuê cho anh Bùi Văn L2. Trước đó, anh L2 có giao cho T và anh L mỗi người một chiếc cưa máy bằng động cơ xăng phụ trách việc cắt hạ cây keo và các loại cây gỗ khác. còn những người khác thực hiện việc bốc, xếp cây lên xe ô tô sau khi T, anh L cắt hạ và cắt khúc thân cây thành từng đoạn. Anh L2 trả công cho mọi người (cùng làm) trên sản phẩm là 180.000đ/tấn khai thác cây keo,

Qua khám nghiệm hiện trường, tử thi, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có đủ cơ sở xác định: Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn là do T và anh L (người chặt cây) không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động cho chính mình cũng như người liên quan dẫn đến tai nạn làm anh L chết; cấp sơ thẩm đã xét xử T về tội vô ý làm chết người là đúng pháp luật. Nạn nhân anh L cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn trên là trong quá trình lao động còn sơ ý, bất cẩn dẫn đến vụ tai nạn.

2.2. Đối với hành vi của anh Bùi Văn L2:

Xuất phát từ mối quan hệ gia đình (anh L là anh rể của L2) và hàng xóm với nhau nên anh L2 đã thuê một số người chặt cây và trả tiền công sau khi họ thực hiện công việc. Theo lời khai của anh L2 và những người liên quan thể hiện những người được giao chặt cây phải tự chịu trách nhiệm về bảo đảm an toàn lao động. Việc thuê chặt cây keo của L2 với tính chất là hợp đồng khoán việc thể hiện sự thỏa thuận của hai bên, trong đó bên nhận giao khoán thực hiện một công việc nhất định theo yêu cầu của bên giao khoán để nhận được một khoản thù lao từ bên giao khoán.

Tại giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm lời khai của bị cáo T và Bùi Văn L2 cũng như người khác có liên quan đều khai việc bảo đảm an toàn lao động trong quá trình chặt keo, bốc gỗ thuộc về người lao động.

Bùi Văn Li khai: “Tất cả những người đi làm cho tôi thì đi làm thời vụ, tôi trả công theo ngày, không ký hợp đồng lao động, khi tôi thuê anh T và anh L cắt cây thì chỉ nói khu vực, địa điểm cần phải cắt cây”. - Bl 119.

Bùi Minh T khai: “Anh L2 thuê đội chặt keo với giá 180.000đ/tấn giữa hai bên chỉ là hợp đồng thời vụ, thỏa thuận với nhau bằng lời nói, công việc đơn giản, việc bảo đảm an toàn lao động trong quá trình chặt keo thuộc về đội chặt keo” - Bl 131

Điều 295 Bộ luật hình sự quy định: Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ....(a) làm chết người).

Nhận thấy: Mối quan hệ nhân quả là dấu hiệu bắt buộc để xem xét trách nhiệm hình sự. Trường hợp có tai nạn lao động xảy ra gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của người lao động trong quá trình tham gia lao động mà nguyên nhân là do chính bản thân người lao động vi phạm các quy định về an toàn, hoặc vô ý thiếu thận trọng tự gây ra cho mình thì cũng không có căn cứ để xem xét người có trách nhiệm trong việc đảm bảo an toàn lao động. Kháng nghị của Viện kiểm sát đã nhận định anh L chết không phải là hậu quả trực tiếp từ hành vi của Bùi Văn L2 gây ra.

Như vậy, xem xét các tài liệu liên quan trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng cho thấy chưa có căn cứ vững chắc để xác định có việc bỏ lọt người phạm tội đối với hành vi của Bùi Văn L2. Mặt khác, hành vi phạm tội của Bùi Minh T trong vụ án là độc lập, cấp sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật, trách nhiệm bồi thường cho người bị hại đã thực hiện xong, nên cấp phúc thẩm không phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại mà kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của Bùi Văn L2 theo quy định.

2.3. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Vô ý làm chết người”
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Minh T 24 tháng (Hai mươi bốn tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/09/2025).
    Giao cho Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo Bùi Minh T trong thời gian thử thách.
    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự Điều 584, Điều 585; Điều 586 và Điều 591 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự thỏa thuận về bồi thường thiệt hại gồm các khoản tổn thất tinh thần, mai táng phí với tổng số tiền là 10.000.000 đồng theo biên bản thỏa thuận ngày 18/02/2025. (Xác nhận đã bồi thường xong)
  4. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại 01 (một) máy cưa xích nhãn hiệu HMPFUJIKAWA-ATK 687 cũ đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn L2.
    (Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 15- Phú Thọ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/09/2025).
  5. Về án phí: Bị cáo Bùi Minh T không phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định.
  6. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- VKSND khu vực 15- Phú Thọ;

- TAND khu vực 15- Phú Thọ;

- Phòng THADS khu vực 15 - Phú Thọ;

- UBND xã Mường Hoa, tỉnh Phú Thọ

- Công an xã Mường Hoa, tỉnh Phú Thọ

- Bị cáo, người tham gia tố tụng

- Lưu HS; Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Quang Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2026/HS-PT ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về hình sự phúc thẩm về tội vô ý làm chết người

  • Số bản án: 03/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Vô ý làm chết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger