TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2026/HS-PT Ngày 07-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Quế.
Ông Trần Minh Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khả Khiêm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 198/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Lâm Thị T1 và Phạm Thị Ú, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/10/1965 tại tỉnh Cà Mau. Căn cước công dân số 096165006441 cấp ngày 29/12/2022. Nơi cư trú: Số E, đường L, Khóm G, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau nay là khóm D, phường T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị N; chồng tên Phạm Ngọc H (Văn H1) và 01 người con; tiền án 01: Tại bản án số 10/2024/HS - PT ngày 20/02/2024 bị Tòa án nhân tỉnh C xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/6/2024 nhưng chưa được xoá án tích; tiền sự: Không. Bị cáo có mặt.
- Họ và tên: Phạm Thị Ú, sinh ngày 01/01/1973 tại tỉnh Cà Mau. Căn cước công dân số 096173005782 cấp ngày 13/8/2021. Nơi cư trú: Số C, đường Q, khóm D, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay thuộc Khóm D, phường T, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T2 và bà Phạm Thị H2; chồng tên Mai Hoàng T3 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Vào ngày 22/4/2024, bị Công an thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong vào ngày 11/7/2024 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo có mặt.
- Họ và tên: Lâm Thị T1, sinh ngày 12/12/1981 tại tỉnh Bạc Liêu, (Nay là tỉnh Cà Mau). Căn cước công dân số 095181006684 cấp ngày 17/02/2023. Nơi cư trú: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc ấp L, xã Đ, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Lâm Văn T4 và bà Nguyễn Thị Á; có chồng Nguyễn Văn A và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Vào ngày 20/02/2025, bị Công an P, thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong vào ngày 24/02/2025 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có hẹn trước với Ngô Văn M nên vào khoảng 21 giờ ngày 11/3/2025 Phạm Thị Ú, Phạm Thị Thu B, Nguyễn Kiều M1 và Nguyễn Thị T tập trung tại khu vực phòng bếp nhà của Đỗ Tấn L1 cùng nhau đánh bài cào 03 lá ăn tiền. Mỗi ván bài đặt cược thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 20.000 đồng, mỗi người thủ cái một lượt và được xoay vòng, người thủ cái sẽ thắng thua với từng người đặt cược. Ai ăn số tiền trên 100.000 đồng thì trả tiền xâu cho ông M số tiền 10.000 đồng, cả nhóm đánh được khoảng 05 - 06 bàn thì Thu B hết tiền nên không chơi tiếp mà ngồi nói chuyện với nhau.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Ngô Văn M gọi điện thoại cho Lâm Thị T1 đến chơi, lúc này gồm Lâm Thị T1, Nguyễn Thị T, Phạm Thị Ú và Nguyễn Kiều M1 đánh bài binh ấn độ 06 lá. Mỗi ván bài đặt cược thấp nhất số tiền 50.000 đồng, cao nhất số tiền 100.000 đồng, mỗi người thủ cái một lượt và được xoay vòng, người thủ cái sẽ thắng thua với từng người đặt cược. Cả nhóm chơi được khoảng 03 - 04 bàn thì Công an xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau đến bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 600.000 đồng.
Về vật chứng thu giữ: 20 bộ bài tây 52 lá chưa sử dụng, 10 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và số tiền 600.000 đồng.
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ú 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lâm Thị T1 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 18/9/2025, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo yêu cầu xin được phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.
Ngày 18/9/2025, bị cáo Phạm Thị Ú kháng cáo yêu cầu hưởng án treo, bị cáo cung cấp toa thuốc của bị cáo bệnh đái tháo đường, trào ngược dạ dày, thiếu calci, toa thuốc của mẹ ruột tên Nguyễn Thị Ánh B1 đái tháo đường, viêm khớp. thoái hoá cột sống, giấy xác nhận chồng bệnh chạy thận ngoại trú.
Ngày 16/9/2025, bị cáo Lâm Thị T1 kháng cáo yêu cầu hưởng án treo, bị cáo cung cấp giấy tờ chứng minh cha là gia đình liệt sĩ nhưng là bản photo.
Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin yêu cầu xin được phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Thị T, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Thị Ú và bị cáo Lâm Thị T1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thị T, Lâm Thị T1 và Phạm Thị Ú đều thừa nhận hành vi phạm tội theo nội dung án sơ thẩm đã xét xử, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở xác định vào ngày 11/3/2025 các bị cáo đã có hành vi đánh bài được thua bằng tiền thì bị bắt quả tang thu tại chiếu bạc số tiền 600.000 đồng. Mặc dù, số tiền đánh bạc ngày 11/3/2025 không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng ngày 20/02/2024 bị cáo Nguyễn Thị T đã bị Tòa án nhân tỉnh Cà Mau xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành án xong hình phạt tù ngày 28/6/2024 chưa được xoá án tích; đối với bị cáo Phạm Thị Ú vào ngày 22/4/2024 bị Công an thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong vào ngày 11/7/2024 và bị cáo Lâm Thị T1 vào ngày 20/02/2025 bị Công an P, thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong vào ngày 24/02/2025 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành. Do đó, hành vi đánh bạc của các bị cáo ngày 11/3/2025 đã bị Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội nên cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xét xử các bị cáo là đúng pháp luật. Đối với bị cáo Phạm Thị Ú và bị cáo Lâm Thị T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cấp sơ thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ú và bị cáo T1 là phù hợp.
Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo Ú cung cấp toa thuốc của bị cáo bệnh đái tháo đường, trào ngược dạ dày, thiếu calci, toa thuốc của mẹ ruột bà Nguyễn Thị Ánh B1 đái tháo đường, viêm khớp, thoái hoá cột sống, giấy xác nhận chồng bệnh chạy thận ngoại trú nhưng đây không phải tình tiết giảm nhẹ nên không được xem xét áp dụng. Bị cáo T1 cung cấp giấy tờ chứng minh cha ruột là gia đình liệt sĩ nhưng là bản photo nên không có cơ sở để xem xét cho bị cáo.
Bản thân bị cáo Nguyễn Thị T đã bị xử phạt tù về hành vi đánh bạc chưa được xoá án tích nhưng vẫn không từ bỏ, không biết ăn năn hối cải và sửa chữa lỗi lầm của mình nên cấp sơ thẩm xem xét và xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm khung hình phạt là phù hợp nên không có căn cứ để áp dụng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Bị cáo Phạm Thị Ú và bị cáo Lâm Thị T1 đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng ý thức của các bị cáo vẫn xem thường pháp luật, không biết hối cải mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý. Cho dù có căn cứ chứng minh cha bị cáo T1 là gia đình liệt sĩ nhưng tình tiết này vẫn không làm thay đổi bản chất sự việc, cấp sơ thẩm đã xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo Ú và bị cáo T1 là đã có sự xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo Ú và bị cáo T1 theo quy định. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo và tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ áp dụng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ đối với bị cáo T và không chấp nhận cho bị cáo Ú và bị cáo T1 được hưởng án treo. Do đó, cần chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt là phù hợp.
[3] Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, đối với bị cáo T đến thời điểm xét xử phúc thẩm bị cáo đủ 60 tuổi thuộc trường hợp người cao tuổi và có yêu cầu được miễn án phí phúc thẩm nên bị cáo T được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu xin được áp dụng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Thị T.
Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu xin được hưởng án treo của các bị cáo Phạm Thị Ú và bị cáo Lâm Thị T1.
Giữ nguyên Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Phạm Thị Ú và bị cáo Lâm Thị T1.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Phạm Thị Ú và bị cáo Lâm Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ú 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Lâm Thị T1 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phạm Thị Ú và bị cáo Lâm Thị T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị T được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Thanh Hải |
Bản án số 03/2026/HS-PT ngày 07/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 03/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc trái phép
