|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐẮK LẮK Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST Ngày: 08-01-2026 V/v: "Tranh chấp ly hôn". |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đăng Đúng.
- Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Cẩm Mỹ – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị khu vực 12 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Lê Ngọc Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thu C; sinh năm 1985; nơi cư trú: khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Å, sinh năm 1979, nơi cư trú: khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị Thu C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Ngô Thị Thu C và ông Nguyễn Văn Å tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) theo giấy chứng nhận kết hôn số 86, cấp ngày 09/12/2009. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc thì đến năm 2016 sau khi sinh đứa con thứ hai (cháu Nguyễn Gia H), cuộc sống vợ chồng giữa bà C và ông Å thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Å thường xuyên ăn nhậu say xỉn về nhà gây gỗ, đập phá tài sản trong gia đình và dùng bạo lực đánh bà C. Nay, bà C nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà C và ông Å không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể chung sống nên bà C yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Văn Å để ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 20/5/2010 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 04/3/2016, hiện nay 02 cháu đang ở với bà C. Sau ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Å phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Å được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa:
* Nguyên đơn xin giữ nguyên lời trình bày và yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án cho nguyên đơn được ly hôn với ông Å, yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu không ông Å cấp dưỡng nuôi con chung.
* Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Å đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà C được ly hôn với ông Å; về con chung: giao hai con chung cho bà C được tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Ngô Thị Thu C khởi kiện xin ly hôn ông Nguyễn Văn Å; ông Å có địa chỉ thường tại khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk.
[1.2] Bị đơn ông Å đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Ngô Thị Thu C và ông Nguyễn Văn Å tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) theo giấy chứng nhận kết hôn số 86, cấp ngày 09/12/2009, là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Kết quả xác minh tại địa phương xác định: “ông Å bỏ nhà đi làm xa, đôi khi về nhà thăm con, không còn sống chung với bà C”; ông Å được toà án đã triệu tập để hoà giải nhưng ông Å vẫn bỏ mặc không quan tâm. Như vậy, lời trình bày của nguyên đơn “tình cảm vợ chồng giữa bà C và ông Å không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể chung sống” là có căn cứ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bà C được ly hôn ông Nguyễn Văn Å, để đảm bảo cho các bên ổn định cuộc sống riêng.
[2.3] Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 20/5/2010 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 04/3/2016, hiện nay cả hai đều do bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu M và cháu H đều có nguyện vọng ở với bà C. Xét thấy, bà C có sức khoẻ, có công việc làm thu nhập ổn định có thể đảm bảo nuôi dưỡng 02 cháu M và cháu H phát triển về thể chất cũng như tinh thần; bà C không yêu cầu ông Å cấp dưỡng nuôi con; ông Å vắng mặt và không tranh chấp về việc nuôi con, không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà C, giao cháu M và cháu H cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Nguyễn Văn Å có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: bà C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 81, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Thu C.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Ngô Thị Thu C được ly hôn ông Nguyễn Văn Å.
- Về con chung: giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc M (sinh ngày 20/5/2010) và Nguyễn Gia H (sinh ngày 04/3/2016) cho bà Ngô Thị Thu C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét giải quyết.
Ông Nguyễn Văn Å có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: bà Ngô Thị Thu C phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí số 0001358 ngày 02/10/2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk (đã nộp đủ).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Duyên |
Bản án số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 03/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C yêu cầu ly hôn A vì A thường xuyên say xỉn về bạo lực gia đình
