|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST Ngày: 07-01-2026 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Công Tiên
- Ông Nguyễn Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ.
Trong ngày 07 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 497/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 285/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy D, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Số C, ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Phan Hoàng A, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2025 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy D trình bày: Vào năm 2006, bà và ông Phan Hoàng A do tự nguyện thương yêu nên tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận Ô (cũ), thành phố Cần Thơ theo quy định. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình, ông Hoàng A không lo làm ăn, thường xuyên gây nợ, bà có khuyên ngăn nhưng ông không thay đổi nên thường xuyên cãi vã nhau. Bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không có kết quả, sau đó ông Hoàng A về nhà cha mẹ ông ruột sinh sống nên ông bà ly thân từ tháng 4 năm 2025 đến nay. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Hoàng A.
Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Ngọc N (nữ), sinh ngày 28/11/2007 và Phan Hoàng T (nam), sinh ngày 25/08/2011. Bà D yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông Hoàng A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn ông Phan Hoàng A nhưng ông Hoàng A vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 207 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa,
- - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- - Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Phan Hoàng A tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, bà D khởi kiện ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng ông Hoàng A vắng mặt nhiều lần không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hoàng A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét quan hệ hôn nhân: Bà D và ông Hoàng A tự nguyện chung sống từ năm 2006, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2008, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên tòa hôm nay, bà D cho rằng khi chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn từ năm 2020, đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng hơn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình, ông Hoàng A không lo làm ăn, thường xuyên gây nợ, ông không quan tâm vợ con nên cuộc sống không hạnh phúc. Bà có khuyên ngăn nhưng ông không thay đổi nên thường xuyên cãi vã nhau. Bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không có kết quả, sau đó ông Hoàng A về nhà cha mẹ ông ruột sinh sống nên ông bà ly thân từ tháng 4 năm 2025 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông bà không còn quan tâm đến nhau. Thời gian ly thân đã lâu, bà D không còn tình cảm với ông Hoàng A nên yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng A.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc triệu tập ông Hoàng A đúng trình tự luật định để tham gia tố tụng tại tòa và có ý kiến đối với hôn nhân của mình nhưng phía ông Hoàng A nhiều lần vắng mặt không rõ lý do. Điều đó cho thấy ông Hoàng A đã không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này, mâu thuẫn giữa các đương sự đã thực sự trầm trọng và cho đến nay không có biện pháp khắc phục, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà D đối với ông Hoàng A là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà D và ông Hoàng A có hai con tên Phan Ngọc N (nữ), sinh ngày 28/11/2007 và Phan Hoàng T (nam), sinh ngày 25/08/2011. Ngọc N đã trưởng thành và không thuộc trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi ly hôn, bà D yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Hoàng T đến trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy, bà D đang nuôi dưỡng cháu T, cháu T đang sống ổn định với bà D, bà D có đảm bảo cho cháu về điều kiện học tập và sinh hoạt cũng như đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của trẻ. Vì vậy, ổn định cho bà D được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T đến trưởng thành là phù hợp với quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu T.
Mặc dù ông Hoàng A không trực tiếp nuôi con nhưng pháp luật dành cho ông Hoàng A quyền được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở ông Hoàng A thực hiện quyền này. Về việc cấp dưỡng nuôi con, bà D không yêu cầu ông Hoàng A cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà D cho rằng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ông Hoàng A vắng mặt nên chưa xác định được phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều:
- - Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 51; 56; 57; 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy D.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy D được ly hôn ông Phan Hoàng A.
- Về con chung: Có hai con tên Phan Ngọc N (nữ), sinh ngày 28/11/2007 và Phan Hoàng T (nam), sinh ngày 25/08/2011. Ngọc N đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Giao cháu Phan Hoàng T cho bà Nguyễn Thị Thúy D trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Ông Phan Hoàng A không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Hoàng A có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở ông Hoàng A thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy D phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai thu số 0005711 ngày 14/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Cần Thơ sang thành tiền án phí (công nhận bà D đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 03/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
