|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 03/2026/HNGĐ - PT Ngày: 30 - 01 - 2026 V/v tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm; Bà Trần Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà– Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Bà Mai Thị Xuyến – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2025/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/HNGĐ - ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thanh Hóa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 30/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1985, địa chỉ: Bản T, xã T, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T: Luật sư Bùi Thị H1 – Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Quỹ tín dụng nhân dân D; địa chỉ: thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Khắc K - Chủ tịch Hội đồng quản trị, vắng mặt.
- 3.2. Phòng G; địa chỉ: Khu B, xã M, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T1 - Giám đốc, vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tất N - Chức vụ: Phó Giám đốc, có mặt.
- 3.3. Ông Đỗ Viết T2, sinh năm 1979; địa chỉ: bản T, xã T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Đỗ Văn H trình bày: Anh và chị Lê Thị T sống với nhau từ năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa đã giải quyết về hôn nhân và con chung, chưa giải quyết về tài sản và công nợ. Trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị T được bố mẹ đẻ tặng cho diện tích đất 431m2. Năm 2020, anh chị bán cho anh Dương Văn C1 và chị Đỗ Thị T3 diện tích 162,5m2; diện tích đất còn lại là 268,5m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh chị tại thửa đất số 1686, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: thôn B, xã T, tỉnh Thanh Hóa. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nhận toàn bộ nhà đất, anh chênh lệch tài sản cho chị T phân ít theo giá mà Hội đồng định giá đã đưa ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và kháng cáo của chị Lê Thị T trong thời hạn luật định; chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, chị Lê Thị T rút nội dung kháng cáo về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản. Việc rút kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên HĐXX chấp nhận.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn chị Lê Thị T về việc yêu cầu xem xét lại phần giá trị tài sản chênh lệch: Căn cứ vào kết quả định giá tài sản tại giai đoạn phúc thẩm, tổng giá trị tài sản tranh chấp là 1.695.162.000 đồng. So với kết quả định giá tại cấp sơ thẩm là 1.196.790.737 đồng, giá trị tài sản đã có biến động tăng thêm 498.371.263 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của chị T, sử dụng kết quả định giá mới làm căn cứ để phân chia giá trị.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 148, điểm c khoản 1 Điều 289 của BLTTDS. Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo bị đơn đã rút về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đỗ Văn H. Giao cho anh Đỗ Văn H được quyền sở hữu, sử dụng thửa đất số 1686, tờ bản đồ số 10; địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Thanh Hóa diện tích thực tế 277,7 m2 đất ở và các tài sản gắn liền với đất. Anh Đỗ Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Lê Thị T giá trị chênh lệch tài sản là 847.581.000 đồng.
- Về nghĩa vụ trả nợ: Anh Đỗ Văn H có trách nhiệm trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Duy Thanh số tiền gốc: 202.236.000 đồng. Anh Đỗ Văn H có trách nhiệm trả nợ cho Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện G số tiền gốc: 31.686.411 đồng. Chị Lê Thị T có trách nhiệm trả nợ cho Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện G số tiền gốc: 81.871.342 đồng.
|
Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND Khu vực 13 – Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
Bản án số 03/2026/HNGĐ - PT ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 03/2026/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
