Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN


Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày 31-12-2025
V/v Ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhung và bà Lò Thị Dậu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cứ Thị X, sinh năm 1973, vắng mặt.
Số Căn cước: 01117300817; ngày, tháng, năm cấp: 31/7/2025; nơi cấp: Bộ C3.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Điện Biên.

2. Bị đơn: Ông Chang A C, sinh năm 1971, vắng mặt.
Số định danh cá nhân: 011071000627.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cứ Thị X trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Cứ Thị X và ông Chang A C tự nguyện chung sống như vợ chồng, xây dựng gia đình từ khoảng năm 1986 – năm 1987 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, hai người chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục của dân tộc. Đời sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do ông C thường xuyên đánh đập bà X, từ năm 2016 đến năm 2024 ông C nhiều lần đánh đập bà X và đã được Trưởng thôn, người thân hòa giải nhưng ông C không thay đổi bản thân. Từ cuối năm 2024 đến nay bà X và ông C đã sống ly thân đến nay. Do ông C thường xuyên đánh đập, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà X yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3 – Điện Biên giải quyết cho bà X được ly hôn với ông Chang A.

- Về con chung: Bà X và ông C1 A C có 05 người con chung, là Chang A D, sinh ngày 07/12/1988; Chang Thị K, sinh ngày 01/01/1989; Chang A S, sinh ngày 25/5/1995; Chang A S1, sinh ngày 25/5/2000; Chang A M, sinh ngày 01/01/2001. Hiện nay các con đã thành niên và có khả năng lao động, bà Cứ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết về giao nuôi con chung.

- Về tài sản chung; nợ chung: Bà Cứ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Chang A C: Khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án ông C1 A C không có ý kiến, không đến Tòa án. Tiến hành xác minh tại nơi cư trú thì ông Chang A C vắng mặt ở nơi cư trú, đi về thất thường mà không rõ thời điểm trở về (BL 34, 35, 38) nên Tòa án không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án trực tiếp cho ông C. Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho ông C. Do ông C không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Bà Cứ Thị X vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà X giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Chang A C vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Điện Biên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Nguyên đơn bà Cứ Thị X đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Chang A C chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố “Không công nhận bà Cứ Thị X và ông Chang A C là vợ chồng”.

- Về con chung: Các con chung của bà Cứ Thị X và ông Chang A C đã thành niên và có khả năng lao động. Bà Cứ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết về giao nuôi chung, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Về tài sản chung; nợ chung: Bà Cứ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà C2 Thị xày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Cứ Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Chang A C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà X, ông C.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Cứ Thị X về Ly hôn với ông Chang A C và các tài liệu chứng cứ kèm theo. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Chang A C cư trú tại thôn H, xã T, tỉnh Điện Biên. Căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Cứ Thị X và ông Chang A C chung sống như vợ chồng từ khoảng năm 1986 hoặc năm 1987 trên sự tự nguyện và được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục của dân tộc nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Điện Biên) xác nhận (BL 04) bà Cứ Thị X và ông Chang A C chung sống như vợ chồng nhưng chưa đến Ủy ban nhân dân xã để đăng ký kết hôn.

Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. N, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.

Theo lời khai bà Cứ Thị X thì bà X và ông Chang A C chung sống như vợ chồng từ khoảng năm 1986 hoặc năm 1987, bà X không xác định được thời điểm bà X ông C về chung sống với nhau. Xem xét về độ tuổi của bà Cứ Thị X sinh năm 1973, ông Chang A C sinh năm 1971, tại thời điểm năm 1986 hoặc năm 1987 chưa đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 6 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Vì vậy không có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà X ông C là hôn nhân hợp pháp theo điểm a, b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội.

Bà Cứ Thị X và ông Chang A C chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn, song các bên không thực hiện nghĩa vụ kết hôn là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận bà Cứ Thị X và ông Chang A C là vợ chồng.

[3] Về con chung: Bà Cứ Thị X và ông Chang A C có 05 người con chung, là Chang A D, sinh ngày 07/12/1988; Chang Thị K, sinh ngày 01/01/1989; Chang A S, sinh ngày 25/5/1995; Chang A S1, sinh ngày 25/5/2000; Chang A M, sinh ngày 01/01/2001. Hiện nay con đã thành niên và có khả năng lao động, bà Cứ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết về giao nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Cứ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Cứ Thị X là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn nộp án phí Tòa án. Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà Cứ Thị X được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Điện Biên là phù hợp, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, 15, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 235, 238, 271, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Cứ Thị X và ông Chang A C là vợ chồng.

2. Về con chung: Bà Cứ Thị X và ông Chang A C có 05 người con chung là Chang A D, sinh ngày 07/12/1988; Chang Thị K, sinh ngày 01/01/1989; Chang A S, sinh ngày 25/5/1995; Chang A S1, sinh ngày 25/5/2000; Chang A M, sinh ngày 01/01/2001. Hiện nay con đã thành niên và có khả năng lao động.

3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà Cứ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Cứ Thị X được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bà Cứ Thị X, ông Chang A C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Điện Biên;
- VKSND khu vực 3 – Điện Biên;
- THADS tỉnh Điện Biên;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Giàng A Tằng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên về ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 3 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Xày yêu cầu ly hôn với anh Chớ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger