Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HS-ST

Ngày 07 tháng 01 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thuận và ông Nguyễn Phước Lộc.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trần Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/HSST-QĐ ngày 23 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

- Bị cáo Võ Văn L, sinh năm 2002 tại L, thành phố Cần Thơ; căn cước công dân: 094202007001; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: khu phố F A, đặc khu P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/9/2025 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

- Bị cáo Nguyễn Văn S, sinh năm 1978 tại Hà Nam; căn cước công dân: 035078000374; nơi đăng ký thường trú: số A, tổ F, phường T, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: khu phố F A, đặc khu P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: thợ sửa xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H2; có vợ Mai Thị Phương D1 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/9/2025 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Ông Danh D2, sinh năm 1979; cư trú: khu phố G A, đặc khu P, tỉnh An Giang.

- Anh Nguyễn Huỳnh Đ, sinh năm 2001; cư trú: khu phố F A, đặc khu P, tỉnh An Giang.

- Anh Lê Tấn T, sinh năm 1999; cư trú: khu phố F A, đặc khu P, tỉnh An Giang.

Các bị hại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 28/8/2025 đến ngày 18/9/2025, bị cáo Võ Văn L, bị cáo Nguyễn Văn S đã thực hiện các hành vi cụ thể như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 28/8/2025, bị cáo Võ Văn L đi bộ đến khu vực Địa Trung H3 thuộc khu phố F A, đặc khu P, tỉnh An Giang lấy 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Exiter màu trắng đen, biển số 95E2-107.29 của anh Nguyễn Huỳnh Đực D1 ở gần khu vực cạp treo, rồi điều khiển đến phòng trọ đó bị cáo L thuê ở tại khu phố F A, đặc khu P, bị cáo L tháo bỏ biển số xe và một phần giàn áo ở đầu xe để tránh bị phát hiện. Sau đó bị cáo L điều khiển xe đến phòng trọ của bị cáo Nguyễn Văn S tại khu phố F A, đặc khu P. Gặp bị cáo S, bị cáo L nói lo cần tiền tiêu xài nên trộm xe bán, S đồng ý mua xe với giá 3.500.000 đồng, số tiền bán xe được bị cáo L tiêu xài hết. Sau khi mua xe, bị cáo S sơn lại màu xe thành đỏ đen, gắn biển số 95H1-013.49 do bị cáo S đặt trên mạng từ trước rồi cất giấu ở nhà để tìm người bán lại.

Vào khoảng 08 giờ ngày 18/9/2025, bị cáo Võ Văn L đi bộ đến khu vực Địa Trung H3 thuộc khu phố F A, đặc khu P lấy chiếc xe môtô nhãn hiệu hiệu Sirius, màu đỏ đen biển số 68E1-181.54 của anh D2 Diệp đậu ở gần khu vực cạp treo rồi điều khiển đến phòng trọ cũi bị cáo Nguyễn Văn S bán cho bị cáo S với giá 2.000.000 đồng, số tiền bán xe được, bị cáo L tiêu xài hết.

Sau khi mua xe, bị cáo S tháo vỏ xe màu đỏ đen ra và gắn vỏ xe màu trắng vào, tháo bỏ biển số 68E1-181.54 và gắn biển số 30F3-1708 đặt mua trên mạng trước đó rồi cất giấu ở nhà tìm người bán lại.

Vào khoảng 10 giờ ngày 18/9/2025, bị cáo Võ Văn L tiếp tục đi đến khu vực Địa Trung H3 thuộc khu phố F A, đặc khu P lấy chiếc xe môtô nhãn hiệu Sirius màu đen, biển số 68X1-157.75 của anh Lê Tấn T đậu ở gần khu vực cạp treo, điều khiển xe đến phòng trọ bán cho bị cáo Nguyễn Văn S với giá 1.500.000 đồng, số tiền bán xe được, bị cáo L tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua xe Sáng tháo bỏ biển số 68X1-157.75, rồi gắn biển số 95F4-5753 đặt mua trên mạng trước đó rồi cất giấu ở nhà tìm người bán lại.

Đến ngày 20/9/2025, biết hành vi của mình đã bị tố giác, Công an đang truy tìm nên bị cáo L và bị cáo S đã đến Công an đặc khu P đầu thú. Đến ngày 29/9/2025, bị cáo Võ Văn L và bị cáo Nguyễn Văn S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra.

Quá trình điều tra, Cơ quan công an đã thu giữ:

  • 01 (một) cây tua vít dài 18cm, mũi cây tua vít bằng kim loại dài 7,3cm, đầu mũi dẹp, cán tua vít bằng nhựa màu vàng xám, dài 10,7cm, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cái áo tay dài, chất liệu bằng vải, màu xám, trên áo có in chữ CENTRAL, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cái áo vải thun, tay ngắn, màu nâu, trên áo có hoa văn, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cái quần vải thun lửng, màu nâu, trên quần có hoa văn, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, có quai, chiều dài mỗi đôi dép là 18 cm, chiều ngang mỗi đôi dép là 10,5 cm, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter biển kiểm soát 95E2-107.29, màu xanh trắng (đã được thay đổi biển kiểm soát giả số 95H1-013.49 và sơn lại màu đỏ đen), đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yahama, loại xe Sirius biển kiểm soát 68E1-181.54, màu đỏ đen (đã được thay đổi biển kiểm soát giả số 30F3-1708 và sơn lại màu trắng đen), đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yahama, loại xe Sirius biển kiểm soát 68X1-157.75, màu xám đen (đã được thay đổi biển kiểm soát giả số 95F4-5753 và sơn lại màu đen), đã qua sử dụng.

Do xác định được các chủ sở hữu tài sản bị chiếm đoạt, Cơ quan công an đã trả lại 03 xe môtô cho các chủ sở hữu là anh Nguyễn Huỳnh Đ, ông Danh D2 và anh Lê Tấn T.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 01 ngày 05/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự đặc khu P, kết luận:

  • Giá trị 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter biển kiểm soát 95E2-107.29, màu xanh trắng (đã được thay đổi biển kiểm soát giả số 95H1-013.49 và sơn lại màu đỏ đen), đã qua sử dụng. Xe mua cũ vào tháng 6/2025. Thời điểm định giá vào ngày 28/8/2025, giá trị là 10.000.000 đồng.
  • Giá trị 01 (một) xe mô tô nhân hiệu Yahama, loại xe Sirius biển kiểm soát 68E1-181.54, màu đỏ đen (đã được thay đổi biển kiểm soát giả số 30F3-1708 và sơn lại màu trắng đen), đã qua sử dụng. Xe mua mới vào tháng 01/2016. Thời điểm định giá vào ngày 18/9/2025, giá trị là 5.167.000 đồng.
  • Giá trị 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yahama, loại xe Sirius biển kiểm soát 68X1-157.75, máu xám đen (đã được thay đổi biển kiểm soát giả số 95F4-5753 và sơn lại màu đen), dã qua sử dụng. Xe mua mới vào tháng 3/2021. Thời điểm định giá vào ngày 18/9/2025, giá trị là 5.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSKV2 ngày 16 tháng 12 năm 2025, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang đã truy tố bị cáo Võ Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo Võ Văn L và bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung vụ án nêu trên.

Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Võ Văn L từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Võ Văn L từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo Võ Văn L nộp 6.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính sung công quỹ Nhà nước.

Các bị cáo không bào chữa, tranh luận gì với ý kiến của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, bị cáo có ý kiến:

Bị cáo L: thời gian qua, bị cáo đã nhận ra cái sai của bị cáo, xin Hội đồng xét xử quyết định mức án thấp nhất để bị cáo có thể sớm trở lại xã hội làm người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo S1: bị cáo mới vi phạm lần đầu, xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm về với gia đình, lao động nuôi mẹ già và vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại là ông Danh H4, anh Nguyễn Huỳnh Đ và anh Lê Tấn T dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt và xét sự vắng mặt của của các bị hại không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Võ Văn L, Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo thể hiện sự nhất quán trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, lời khai của các bị cáo còn phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Từ ngày 28/8/2025 đến ngày 18/9/2025, tại khu vực Địa Trung H3 thuộc khu phố F A, đặc khu P, tỉnh An Giang, lợi dụng các bị hại lơ là, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản, bị cáo Võ Văn L đã 03 lần lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 xe môtô nhãn hiệu Exciter biển kiểm soát 95E2-107.29 trị giá 10.000.000 đồng, xe môtô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 68E1-181.54 trị giá 5.167.000 đồng và xe môtô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 68X1-157.75 trị giá 5.000.000 đồng (tổng giá trị bị chiếm đoạt: 20.167.000 đồng).

Bị cáo Nguyễn Văn S biết các xe môtô nêu trên đều do bị cáo Võ Văn L chiếm đoạt của người khác nhưng bị cáo vẫn mua, thay đổi màu sơn và lắp biển số giả nhằm tránh bị phát hiện để bán lại cho người khác.

Hành vi nêu trên bị cáo Võ Văn L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ sức lao động, bị cáo cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi, mức độ của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: từ ngày 28/8/2025 đến ngày 18/9/2025, các bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi lét lúc chiếm đoạt tài sản của người khác mà mỗi lần thực hiện hành vi, tài sản bị chiếm đoạt đều có giá trị từ 5.000.000 – 10.000.000 đồng nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; bị cáo Võ Văn L có trình độ học vấn thấp nên có phần hạn chế trong nhận thức pháp luật, riêng bị cáo Nguyễn Văn S có ông ngoại là người tham gia chống Mỹ, được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu “Huân chương kháng chiến hạng nhất”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quá trình nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một khoản thời gian theo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang để có thể giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng: cơ quan điều tra đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại là đúng quy định; các vật chứng khác là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Võ Văn L đã thu lợi bất chính 6.000.000 đồng từ việc bán các xe môtô lấy trộm nên cần buộc bị cáo nộp 6.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

[6] Bị cáo thuộc thành phần lao động, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với việc bị cáo Nguyễn Văn S có hành vi mua các biển số xe giả lắp vào các xe bị lấy trộm nhằm tiêu thụ tài sản, có quan cảnh sát điều tra tiến hành xác minh, xử lý trong vụ án khác là phù hợp.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025: xử phạt bị cáo Võ Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 20/9/2025).

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 20/9/2025).

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây tua vít dài 18cm, mũi cây tua vít bằng kim loại dài 7,3cm, đầu mũi dẹp, cán tua vít bằng nhựa màu vàng xảm, dài 10,7cm; 01 (một) cái áo tay dài, chất liệu bằng vải, màu xám, trên áo có in chữ CENTRAL, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo vải thun, tay ngắn, màu nâu, trên áo có hoa văn, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần vải thun lửng, màu nâu, trên quần có hoa văn, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, có quai, chiều dài mỗi đôi dép là 18 cm, chiều ngang mỗi đôi dép là 10,5 cm, đã qua sử dụng (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).

Buộc bị cáo Võ Văn L nộp 6.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.

Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo Võ Văn L, bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSNDKV2 – An Giang;
  • - Công an đặc khu Phú Quốc;
  • - Phòng THADSKV2 – An Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phước Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/HS-ST ngày 07/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 02/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn L và Nguyễn Văn S phạm tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger