Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15- PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 09-01-2026

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng.

Hội Thẩm Nhân Dân: bà Bùi Thị Dung; ông Bùi Văn Tấn

- Thư ký phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Phú Thọ tham gia phiên toà: ông Đinh Thế Tâm- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ. Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 111/2025/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 15/12/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1998. Nơi cư trú: xóm R, xã Q, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;

- Bị đơn: Bùi Văn L, sinh năm 1990. Nơi cư trú: xóm R, xã Q, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Bùi Thị N trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã Q, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc, không còn tình cảm với nhau nên chị xin ly hôn anh L.

2. Về con chung: Chị N và anh L có 02 con chung là Bùi Gia P, sinh ngày 19/6/2015 và Bùi Ngọc V, sinh ngày 14/5/2022. Hiện các con đang tạm thời sống anh L trong thời gian chị N, anh L làm thủ tục ly hôn. Khi ly hôn, chị N đề nghị giao cháu V cho chị N, giao cháu P cho anh L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn chị chưa yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản; công nợ: Chị N khai không có.

Ngoài ra chị N không có yêu cầu gì thêm.

Quan điểm của bị đơn anh Bùi Văn L:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa anh với chị N có mâu thuẫn do chưa tin tưởng nhau. Tuy nhiên, anh vẫn còn tình cảm với chị N nên mong muốn đoàn tụ với chị N và không đồng ý ly hôn.

2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Bùi Gia P, sinh ngày 19/6/2015 và Bùi Ngọc V, sinh ngày 14/5/2022. Hiện các con đang sống với anh L trong thời gian chị N, anh L làm thủ tục ly hôn. Khi ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh chưa yêu cầu giải

3. Về tài sản; công nợ: Không có.

Ngoài ra anh L không có ý kiến gì thêm.

Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Phú Thọ công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:

Về tố tụng: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn anh Bùi Văn L có nơi cư trú tại xóm R, xã Q, tỉnh Phú Thọ nên theo qui định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.

Về việc vắng mặt của chị Bùi Thị N và anh Bùi Văn L: chị N và anh L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh L theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị N và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh L là phù hợp Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về con chung: Xét điều kiện hiện tại của các bên đương sự, quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên đề nghị giao con cháu V cho chị N, giao cháu P cho anh L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và chưa giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về tài sản; Công nợ: Chị N, anh L khai nhận không có nên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn anh Bùi Văn L có nơi cư trú tại xóm R, xã Q, tỉnh Phú Thọ nên theo qui định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.

Về việc vắng mặt của chị Bùi Thị N và anh Bùi Văn L: chị N và anh L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh L theo thủ tục chung.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Bùi Văn L là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do bất đồng về phong cách sống nên cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề, không có hạnh phúc và hiện đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau.

Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thẻ kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N về việc ly hôn với anh L là phù hợp Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

[3]. Về con chung: Chị N và anh L có 02 con chung là Bùi Gia P, sinh ngày 19/6/2015 và Bùi Ngọc V, sinh ngày 14/5/2022. Hiện các con đang sống anh L trong thời gian chị N, anh L làm thủ tục ly hôn. Khi ly hôn, chị N đề nghị giao cháu V cho chị N, giao cháu P cho anh L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh L đề nghị được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn anh, chị chưa yêu cầu giải quyết.

[3.1] Về yêu cầu nuôi con: Hội đồng xét xử thấy, trong thời gian chị N và anh L làm thủ tục ly hôn thì cháu V và cháu P đang tạm thời sống cùng anh L tại xóm R, xã Q; chị N và anh L có chỗ ở và công việc ổn định đủ điều kiện nuôi con; cháu P có nguyện vọng ở với bố. Xét quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, điều kiện thực tế và nguyện vọng của đương sự, áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật HN&GĐ năm 2014 thấy cần giao cháu V cho chị N, giao cháu P cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, đủ khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, chị N, anh L có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

[3.2] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, anh L, chị N đều chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử thấy, nghĩa vụ nuôi con chung là thuộc về cha mẹ, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, anh L, chị N đều chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Theo kết quả xác minh tại địa phương thì anh L, chị N có đầy đủ điều kiện nuôi con. Do vậy, HĐXX không đề cập xem xét giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con phù hợp khoản 2 Điều 82, Điều 83; Điều 107, Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014.

Vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại các Điều 81; 82; 83; 84 Luật HN&GĐ năm 2014.

[4]. Về tài sản; công nợ: Chị N, anh L khai nhận không có nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

[5]. Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N đối với anh Bùi Văn L về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N được ly hôn anh Bùi Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Gia P, sinh ngày 19/6/2015 cho anh L và giao cháu và Bùi Ngọc V, sinh ngày 14/5/2022 cho chị N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 01/2026 trở đi cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, đủ khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh L, chị N chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha mẹ với con chưa thành niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con); Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại các Điều 81; 82; 83; 84; 85 Luật HN&GĐ năm 2014.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003987 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ nay chị N không phải nộp án phí nữa.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo qui định.

5. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phu Thọ;
  • - VKSND khu vực 15- Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Quyết Thắng (Theo GCNKH số: 25/2016 ngày 06/06/2016 của UBND xã Phú Lương cũ);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Dung      Bùi Văn Tấn

Lê Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2026/HNGĐ-ST ngày 09/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 06/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Ngát- Bùi Văn Lộc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger