|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2026/HNGĐ-PT Ngày: 21-01-2026 “V/v Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng
Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 39/2025/TLPT-HNGĐ ngày 02/12/2025, về việc “Tranh chấp về chia tài chung vợ chồng khi ly khi ly hôn”, do có kháng cáo đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hưng Yên.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 236/2025/QĐ-PT ngày 30/12/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1965. Địa chỉ: thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965. Địa chỉ: thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Hồng T1 và Luật sư Trần Thị L, Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1989. (Có mặt)
- - Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên.
Người làm chứng: Bà Chu Thị T2, sinh năm 1977; cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 12/9/2009. Cùng địa chỉ: thôn B, xã G, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn M1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị T kết hôn năm 1988 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn từ khoảng năm 2004 - 2005, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Về con chung, vợ chồng có một con là anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1989, đã trưởng thành, có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, ông cho rằng thửa đất số 305, tờ bản đồ số 03 cùng nhà ở và các công trình trên đất có nguồn gốc một phần do bố mẹ ông cho trước khi kết hôn, phần còn lại do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân; đề nghị Tòa án xác định rõ tài sản riêng, tài sản chung và chia theo quy định pháp luật. Về công nợ, ông trình bày vợ chồng có vay của Ngân hàng N số tiền 160.000.000 đồng, sau khi bà T đi lao động nước ngoài ông là người trực tiếp thanh toán toàn bộ nên yêu cầu bà T hoàn trả cho ông một nửa số tiền đã trả. Đối với đất nông nghiệp và tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, ông xác định các bên đã tự thỏa thuận, rút yêu cầu Tòa án giải quyết và đồng ý trả lại cho bà T số tiền bồi thường đã nhận thay.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà xác nhận việc kết hôn với ông M là hợp pháp; vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, nay bà đồng ý ly hôn. Về con chung, bà xác nhận có một con chung là anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1989, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, bà cho rằng toàn bộ thửa đất số 305, tờ bản đồ số 03 cùng nhà ở và các công trình trên đất là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân; bà không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của ông M. Về công nợ, bà xác định khoản vay ngân hàng là nghĩa vụ chung của vợ chồng, việc ông M trả nợ là thực hiện nghĩa vụ chung nên bà không đồng ý hoàn trả. Đối với đất nông nghiệp và tiền bồi thường, bà yêu cầu ông M trả lại cho bà số tiền bồi thường đất nông nghiệp đã nhận thay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn M1 trình bày: Anh xác nhận bố mẹ anh có mâu thuẫn và sống ly thân nhiều năm; đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định. Đối với tài sản chung, anh đang sinh sống ổn định trên thửa đất tranh chấp, có nguyện vọng tiếp tục sử dụng nhà đất; trường hợp Tòa án chia tài sản, anh và bà T sẽ thanh toán giá trị tương ứng cho ông M. Anh xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường đất nông nghiệp, không có yêu cầu gì thêm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trình bày: Bà Nguyễn Thị B xác nhận bà là người trực tiếp nhận và canh tác diện tích đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình ông M từ năm 1993; trường hợp Tòa án giải quyết chia đất nông nghiệp, bà đồng ý giao trả đất nhưng đề nghị được thanh toán giá trị cây trồng trên đất. Bà Chu Thị T2 xác nhận có quan hệ tình cảm với ông M trong thời gian ông M và bà T sống ly thân và có một con chung là cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh năm 2009; hiện không có yêu cầu gì liên quan đến việc ly hôn và chia tài sản giữa ông M và bà T. Cháu Nguyễn Quỳnh A trình bày cháu sống cùng mẹ tại Hà Nội, không có yêu cầu gì đối với việc giải quyết vụ án.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn Q trình bày: Nguồn gốc thửa đất ông M và bà T đang sử dụng là do bố mẹ để lại cho các con, sau đó ông M mua thêm đất ao của Hợp tác xã; khoảng năm 1992–1993 vợ chồng ông M chuyển nhượng cho ông một phần diện tích đất để làm vốn làm ăn. Đối với phần đất còn lại của vợ chồng ông M, ông không có tranh chấp, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về kết quả xác minh, Tòa án xác định ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng hợp pháp, có một con chung là anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1989. Địa phương không có hồ sơ, tài liệu về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng. Theo hồ sơ địa chính và đo đạc thực tế, diện tích đất vợ chồng ông M, bà T đang quản lý, sử dụng là 188,4 m², thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 03 tại thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên.
Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Kết quả xác định trên đất có nhà ở hai tầng xây dựng năm 1998 và các công trình phụ; giá trị quyền sử dụng đất là 1.989.504.000 đồng, giá trị tài sản gắn liền với đất là 238.387.000 đồng. Các đương sự không khiếu nại kết quả thẩm định, định giá. Theo xác nhận của Ngân hàng N, khoản vay 160.000.000 đồng trong thời kỳ hôn nhân đã được thanh toán xong, không còn dư nợ.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hưng Yên đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông M và bà T; xác định thửa đất 188,4 m² cùng nhà ở và công trình trên đất là tài sản chung, chia theo tỷ lệ ông M được hưởng 55%, bà T được hưởng 45%; giao ông M sử dụng phần đất có nhà hai tầng, bà T sử dụng phần đất còn lại có lán lợp tôn; ông M có nghĩa vụ thanh toán cho bà T số tiền chênh lệch 109.363.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu của ông M về việc buộc bà T hoàn trả một phần khoản nợ đã trả; đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia đất nông nghiệp; các bên chịu án phí theo quy định. Tòa án sơ thẩm đồng thời kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H xem xét dấu hiệu vi phạm chế độ một vợ một chồng đối với ông M và bà Chu Thị T2.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn M1 kháng cáo phần chia tài sản của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc phân chia tài sản chung để bảo đảm quyền lợi của bà T và anh M1.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- - Bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn M1 giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án xác định và chia cho bà phần tài sản lớn hơn dựa trên công sức đóng góp của bà và anh M1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị giao cho bà T 55% giá trị tài sản chung vợ chồng.
- - Ông Nguyễn Văn M không chấp nhận kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm; ông xác định nếu giao tài sản là hiện vật như cấp sơ thẩm đã tuyên thì ông tự nguyện trả bà T 250.000.000 đồng chênh lệch về tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung: Kháng cáo của bà T và anh M1 là có căn cứ, đề nghị sửa bản án sơ thẩm về phần chia tài sản theo hướng giao nhà 2 tầng và diện tích đất 109,6m² cho bà T; giao diện tích đất và tài sản còn lại cho ông M; bà T trả chênh lệch cho ông M 250.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng và phạm vi xét xử phúc thẩm
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn M1 có đơn kháng cáo đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên.
Xét thấy, đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T được nộp trong thời hạn luật định, người kháng cáo có đủ tư cách, hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Đối với đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn M1, xét thấy anh M1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; tuy nhiên, bản án sơ thẩm không giải quyết quyền, nghĩa vụ dân sự nào đối với anh M1, anh M1 không có yêu cầu độc lập và không phải là chủ thể của quan hệ tài sản được giải quyết trong vụ án. Các ý kiến trình bày của anh M1 tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ thể hiện nguyện vọng về phương án sử dụng tài sản, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự độc lập. Do đó, anh Nguyễn Văn M1 không có quyền kháng cáo đối với phần phân chia tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T theo quy định tại Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Văn M1; việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận đơn kháng cáo và thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của anh M1 là chưa đúng, nên cần hoàn trả cho anh Nguyễn Văn M1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo quy định của pháp luật.
Do nội dung kháng cáo hợp lệ chỉ liên quan đến yêu cầu của bà Nguyễn Thị T đối với phần phân chia tài sản chung, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét đối với phần này. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, con chung, công nợ và việc đình chỉ giải quyết đối với đất nông nghiệp không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật và không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.
[2]. Về việc xác định tài sản chung của vợ chồng
X tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, Hội đồng xét xử thấy rằng: thửa đất số 305, tờ bản đồ số 03, diện tích đo đạc thực tế 188,4 m² tại thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên cùng nhà ở và các công trình gắn liền với đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T.
Thửa đất này có nguồn gốc một phần do bố mẹ ông Nguyễn Văn M cho, một phần do vợ chồng mua của Hợp tác xã năm 1990; sau đó được nhập thửa, sử dụng ổn định, năm 1997 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn M. Việc đứng tên hộ gia đình không làm thay đổi bản chất pháp lý của tài sản là tài sản chung của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định toàn bộ diện tích đất 188,4 m² cùng nhà ở hai tầng xây dựng năm 1998 và các công trình phụ trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với nhận định này và lấy đây làm căn cứ để xem xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T về tỷ lệ chia tài sản chung.
[3]. Về yêu cầu kháng cáo của đương sự đối với việc chia tài sản chung
Thửa đất số 305, tờ bản đồ số 03, diện tích 188,4 m² cùng nhà ở và các công trình gắn liền với đất đã được Tòa án cấp sơ thẩm chia bằng hiện vật, giao cho mỗi bên một phần đất có thể sử dụng độc lập, phù hợp với hiện trạng sử dụng và điều kiện thực tế của thửa đất. Việc giao ông Nguyễn Văn M sử dụng phần đất có nhà ở hai tầng và bà Nguyễn Thị T sử dụng phần đất còn lại có lán lợp tôn bảo đảm ổn định trong quản lý, sử dụng tài sản, không làm giảm giá trị tài sản chung; vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T về việc chia lại hiện vật.
Về tỷ lệ phân chia giá trị tài sản, căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xem xét các yếu tố về nguồn gốc tài sản, công sức đóng góp và lỗi của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân. Xét thấy ông Nguyễn Văn M có ưu thế hơn về nguồn gốc tài sản do thửa đất có một phần từ gia đình ông; tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân, ông M có lỗi khi vi phạm nghĩa vụ chung thủy, xâm phạm chế độ một vợ, một chồng, là nguyên nhân dẫn đến ly hôn. Bà Nguyễn Thị T là người trực tiếp duy trì đời sống gia đình, quản lý và sử dụng nhà đất trong thời gian dài. Xét tổng thể các yếu tố này, không có căn cứ xác định công sức đóng góp của một bên vượt trội rõ rệt, nên việc chia tài sản chung theo tỷ lệ mỗi bên được hưởng 50% giá trị là phù hợp.
Theo kết quả định giá, tổng giá trị tài sản chung là 2.227.891.000 đồng, mỗi bên được hưởng 1.113.945.500 đồng. Trên cơ sở giữ nguyên hiện vật đã giao, bên nhận nhà ở hai tầng có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho bên còn lại để bảo đảm đúng tỷ lệ được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn M tự nguyện thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền 250.000.000 đồng, trong khi nếu bà T là người nhận nhà ở hai tầng thì bà T chỉ phải thanh toán cho ông M khoảng 200.000.000 đồng.
Xét thấy phương án giao nhà ở hai tầng cho ông Nguyễn Văn M, giữ nguyên cách chia hiện vật như bản án sơ thẩm và ghi nhận bà Nguyễn Thị T nhận số tiền 250.000.000 đồng từ ông M là phương án bảo đảm nguyên tắc chia tài sản chung theo giá trị, cân bằng quyền lợi của các bên và thuận lợi cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử chấp nhận phương án này; chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T về tỷ lệ chia giá trị tài sản, không chấp nhận kháng cáo về việc chia lại hiện vật.
Đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn M1, do anh M1 không có quyền kháng cáo đối với phần phân chia tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí phúc thẩm và án phí sơ thẩm
Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị T được chấp nhận một phần, nên bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho anh Nguyễn Văn M1 tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.
Về án phí dân sự sơ thẩm, ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T được chia theo tỷ lệ mỗi bên được hưởng 50% giá trị tài sản (1.113.945.500 đồng/người), nên cần điều chỉnh án phí sơ thẩm dân sự tương ứng với giá trị phần tài sản được hưởng theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 33 và 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T đối với phần chia tài sản chung của bản án sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn M1. Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên về tỷ lệ chia giá trị tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán chênh lệch.
- Về tài sản chung của vợ chồng
Xác định tài sản chung của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T là quyền sử dụng 188,4 m² đất, thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 03, tại thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên), cùng nhà ở và các công trình gắn liền với đất, tổng giá trị 2.227.891.000 đồng.
Chia tài sản chung theo tỷ lệ mỗi bên được hưởng 50%, tương ứng 1.113.945.500 đồng/người, cụ thể:
- - Giao cho ông Nguyễn Văn M được quyền quản lý, sử dụng 109,6 m² đất gắn liền với nhà ở hai tầng xây dựng năm 1998 và các công trình phụ, có tổng giá trị 1.334.433.000 đồng;
- - Giao cho bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng 78,8 m² đất gắn liền với nhà (lán) lợp tôn, có tổng giá trị 893.188.000 đồng.
- - Ghi nhận sự tự nguyện ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền chênh lệch là 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
- - Các đương sự được giao quyền sử dụng đất có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật.
(Việc phân chia nhà, đất có sơ đồ kèm theo bản án)
- Về nghĩa vụ thanh toán và lãi chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Văn M chậm thanh toán số tiền chênh lệch nêu trên cho bà Nguyễn Thị T thì còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn M1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002392 ngày 20/10/2025 và hoàn trả cho anh Nguyễn Văn M1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002390 ngày 20/10/2025, đều của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu 45.418.365 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT ngày 21/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
- Số bản án: 02/2026/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm về phân chia tài sản
