|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI Bản án số: 02/2026/HS-ST Ngày 07-01-2026 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Duy Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Chiến
- Ông Hồ Xuân Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Công D (tên gọi khác: Cu M), sinh ngày: 28/12/1996 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); số căn cước công dân: 052096003182; nơi cư trú: Thôn V, xã T, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; con ông: Trần Công S, sinh năm: 1970 và bà Ngô Thị M1, sinh năm: 1972; vợ: Huỳnh Thị Tuyết K, sinh năm: 1999 (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm: 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 01/6/2018, bị Công an huyện T, tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, đã chấp hành xong. Ngày 26/5/2025, bị Công an xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lâm Thanh H, sinh năm: 1974; cư trú tại: Thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Tấn C, sinh năm: 1990; cư trú tại: Thôn V, xã T, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1980; cư trú tại: Thôn N, xã T, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1983; cư trú tại: Thôn N, xã T, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18/5/2025, Trần Công D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu sơn đỏ, biển số 77H1-6772 (xe D mượn của anh Nguyễn Tấn C) đi đến lán trại của công trình thi công Dự án tuyến đường ven biển D - C thuộc thôn L, xã T, tỉnh Gia Lai, do Công ty cổ phần T1 phụ trách để trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài. Khi đến nơi, D dựng xe cách lán trại khoảng 50m, đi bộ đến và lén lút chui vào bên trong lán trại thông qua khoảng trống giữa vách tôn và nền đất (rộng 58cm). Khi vào bên trong lán trại, D thấy ông Lâm Thanh H (là bảo vệ công trình) đang nằm ngủ trên võng dù có khóa kéo phéc-mơ-tuya nên D dùng tay kéo khóa kéo trên võng xuống một đoạn khoảng 20cm và lén lút thò tay phải vào lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77S, màu đen của ông H. Khi vừa lấy được điện thoại, quay lưng đi thì bị ông H phát hiện và dùng tay chụp giữ D nhưng không nắm giữ lại được. Lúc này, D cầm theo điện thoại di động bỏ chạy thì bị vách tôn cứa vào vùng lưng làm xây xát da. D chạy trốn sau ngôi mộ trong khu gò mã cách vị trí dựng xe mô tô khoảng 100m. Sau khi ông H đuổi theo một đoạn không bắt được D thì quay về lán trại lấy đèn pin tiếp tục tìm kiếm. D lo sợ bị phát hiện nên bỏ lại điện thoại di động bên hông của 01 ngôi mộ trong khu gò mã và đi bộ băng qua ruộng về nhà, để lại xe mô tô 77H1-6772 gần hiện trường. Ông H nghi ngờ người thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại của mình bỏ chạy đã để lại xe mô tô trên nên canh giữ và báo cáo Công an xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là Công an xã T, tỉnh Gia Lai) để được giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Gia Lai) đã tạm giữ 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77S, màu đen, kiểu máy: CPH2473, số se-ri S/N: 97d1196, số IMEI 1: 866996066456858, số IMEI 2: 866996066456841 và 01 xe mô tô biển số 77H1-6772, nhãn hiệu MAJESTY, màu sơn đỏ, số khung: 164174, số máy: FMH164174, không có bửng chắn bùn, đã qua sử dụng.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTTHS ngày 11/6/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) kết luận 01 điện thoại di động bị trộm cắp nêu trên tại thời điểm ngày 18/5/2025 có giá trị là 2.067.000 đồng.
Ngày 27/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Gia Lai) đã trả lại chiếc điện thoại di động trên cho ông Lâm Thanh H.
Về trách nhiệm dân sự: Ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-KV2 ngày 19/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Công D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Công D đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Lâm Thanh H không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại 01 chiếc xe mô tô biển số 77H1-6772 cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên và không có ý kiến hay khiếu nại đối với kết luận định giá tài sản. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã biết lỗi và hối hận về hành vi vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị hại là ông Lâm Thanh H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Tấn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy: Trong quá trình điều tra, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tiến hành tố tụng khác cũng không có ý kiến về việc vắng mặt ông H, bà T, ông B, anh C. Vì vậy, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18/5/2025, tại lán trại của công trình thi công Dự án tuyến đường ven biển D - C ở thôn L, xã T, tỉnh Gia Lai, Trần Công D đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77S màu đen của ông Lâm Thanh H trị giá 2.067.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như nội dung Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-KV2 ngày 19/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Công D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử lý vi phạm hành chính 02 lần vào năm 2018 và năm 2025 bằng hình thức phạt tiền về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua đó thể hiện bị cáo tuy đã được giáo dục nhiều lần nhưng vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội.
Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân nêu trên đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thẩm xét thấy cần phải cách ly bị cáo Trần Công D ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm; không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có thu nhập ổn định.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ông Lâm Thanh H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Theo Phiếu trả lời xác minh xe ngày 27/5/2025 của Công an xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (Nay là xã T, tỉnh Gia Lai) thì chủ xe mô tô biển số 77H1-6772 là bà Nguyễn Thị T; khoảng năm 2023, bà T đã cho anh Nguyễn Tấn C sử dụng xe mô tô nêu trên nhưng chỉ nói miệng, không có lập văn bản, giấy tờ tặng cho theo quy định. Sau đó, D mượn xe của anh C nói dối để đi làm nhưng lại sử dụng làm phương tiện phạm tội; anh C không biết D sử dụng xe trên để đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, trả lại cho bà Nguyễn Thị T xe mô tô trên theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Trong vụ án này, anh Nguyễn Tấn C đã cho Trần Công D mượn xe mô tô biển số 77H1-6772 và D sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng anh C không biết hành vi phạm tội nêu trên của D nên anh C không đồng phạm với D về tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G không xử lý hình sự đối với anh C là có căn cứ, đúng pháp luật.
[9] Theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Trần Công D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai đề nghị về tội danh và hình phạt đối với bị cáo, phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 268, Điều 269, Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Công D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Trần Công D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 (một) xe mô tô biển số 77H1-6772, nhãn hiệu MAJESTY, màu sơn đỏ, số khung: 164174, số máy: FMH164174. Tình trạng xe mô tô đã cũ, qua sử dụng. (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh G và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Gia Lai).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Công D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phương |
Bản án số 02/2026/HS-ST ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2026/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Công Duy phạm tội trộm cắp tài sản
