|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 02/2026/HS-ST Ngày: 06/01/2026 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Hoàng Thị Thanh
- Ông: Thái Thiên Lương
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà-Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo: Phan Ngọc V, sinh ngày: 27 tháng 6 năm 1996 tại: Xã T, tỉnh Quảng Trị. Nơi cư trú: Thôn D T, xã T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn V1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01 (Tại Bản án số 37/2020/HS-ST ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 25/01/2025). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2025 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 45 phút, ngày 10/09/2025, tại đường nội thôn thuộc địa phận thôn D T, xã T, tỉnh Quảng Trị, Tổ công tác Công an xã T phối hợp với Tổ tuần tra Công an tỉnh Q tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện Phan Ngọc V, sinh năm 1996, trú tại thôn D T, xã T đang đi bộ trên đường nội thôn có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, lúc này Phan Ngọc V vứt từ tay phải ra giữa đường 04 ống nhựa, bên trong mỗi ống chứa tinh thể màu trắng. Qua đấu tranh ban đầu, V khai nhận đó là ma túy loại ma túy đá, V cất giấu để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt quả tang đối với Phan Ngọc V, tạm giữ tang vật liên quan.
Về nguồn gốc số ma túy, Phan Ngọc V khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 07/9/2025, V một mình đi bộ từ nhà lên xã Đ, tỉnh Quảng Trị để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến một bãi đất trống thuộc xã Đ, V thấy một người đàn ông lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, V hỏi mua ma túy thì người đàn ông đó đồng ý bán cho V 03 ống nhựa chứa ma túy đá bên trong với giá 2.000.000 đồng. V cầm ma túy về nhà rồi chia nhỏ ra bỏ vào 06 ống nhựa nhiều màu sắc và dán kín hai đầu, sau đó V sử dụng hết 02 ống. Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 10/9/2025, V cầm 04 ống nhựa chứa ma túy còn lại đi tìm chỗ sử dụng, khi đến đoạn đường nội thôn thuộc địa phận thôn D T, xã T, tỉnh Quảng Trị thì bị phát hiện bắt quả tang như trên.
Tại bản kết luận giám định số: 1220/KL-KTHS ngày 13/9/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận: 04 (bốn) ống nhựa, nhiều màu sắc thu giữ của Phan Ngọc V, được gửi trưng cầu giám định có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phan Ngọc V, được gửi trưng cầu giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,844g (không phẩy tám trăm bốn mươi bốn gam).
Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã thu giữ từ Phan Ngọc V, gồm: 04 (bốn) ống nhựa, nhiều màu sắc, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,844g, sau khi lấy mẫu vật phục vụ giám định, số ma túy còn lại là 0,742 gam, cùng vỏ bao gói, được niêm phong trong phong bì thư ghi số “1220/KL-KTHS”.
Cáo trạng số 12/CT-VKSKV2 ngày 04/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị quyết định truy tố bị cáo Phan Ngọc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h, khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Ngọc V từ 42 (bốn mươi hai) tháng đến 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Về vật chứng: áp dung điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ghi ký hiệu “1220/KL-KTHS”, có chữ ký của những người tham gia, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có 0,742 gam ma túy loại Methamphetamine cùng 04 (bốn) ống nhựa và vỏ bao gói. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Ngọc Vũ P chịu 200.000 đồng án phí để sung công.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát Khu vực 2, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội: Mặc dù nhận thức rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng Phan Ngọc V vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Số ma túy mà Phan Ngọc V tàng trữ trái phép có khối lượng 0,844 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp với các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện và đầy đủ chứng cứ về thời gian, địa điểm bắt quả tang, khối lượng chất ma túy, loại ma túy, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Phan Ngọc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phan Ngọc V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên ngày 20/11/2020 đã bị tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 năm tù, vừa chấp hành xong hình phạt tháng 01/2025 nhưng không lấy đó mà rèn luyện lao động mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do đó bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phan Ngọc V đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phân hình phạt cho bị cáo.
[4] Vật chứng vụ án: Phong bì thư ghi ký hiệu “1220/KL-KTHS”, có chữ ký của những người tham gia, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có 0,742 gam ma túy loại Methamphetamine cùng 04 (bốn) ống nhựa và vỏ bao gói. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, vì vậy cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma túy Phan Ngọc V khai mua của người đàn ông ở xã Đ không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh.
[5] Án phí: Bị cáo Phan Ngọc V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Ngọc V 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 11/9/2025).
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư ghi ký hiệu “1220/KL-KTHS”, có chữ ký của những người tham gia, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có 0,742 gam ma túy loại Methamphetamine cùng 04 (bốn) ống nhựa và vỏ bao gói.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2025 tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Quảng Trị.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Ngọc V phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Quốc Hoàn |
Bản án số 02/2026/HS-ST ngày 06/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 02/2026/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự
