|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA Bản án số: 02/2026/HNGĐ- ST Ngày 06 - 01 - 2026 V/v Ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lý Thị Dung
- Ông Nguyễn Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thào Thị C, sinh năm 2003; nơi cư trú: bản X, xã Gia Phù, tỉnh Sơn La, “có mặt”.
- Bị đơn: Anh Giàng A M, sinh năm 2002; nơi cư trú: bản X, xã Gia Phù, tỉnh Sơn La, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 8 năm 2025 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Thào Thị C trình bày: Chị C và anh M xác lập quan hệ vợ chồng từ tháng 01 năm 2023, trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân dân xã Suối Bau, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 16/01/2023. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thiếu tôn trọng nhau, anh M thường xuyên có hành vi bạo lực về tinh thần và thân thể đối với chị C. Chị C và anh M đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Chị C thấy rằng, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là trầm trọng, không thể giải hoà, tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh M.
Về con chung, vợ chồng sinh được một người con chung là cháu Giàng A Ch, sinh ngày 07/01/2021. Hiện nay cháu Ch đang sống cùng với bố là Giàng A M. Chị C đề nghị để cho anh Giàng A M được trực tiếp nuôi con chung, do bản thân chị C hiện không có nơi ở riêng, đang phải sống nhờ bố, mẹ đẻ.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị C cho rằng do điều kiện kinh tế khó khăn, bản thân không có việc làm, không có thu nhập nên chị không có khả năng cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung), chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tại phiên tòa, bị đơn là anh Giàng A M vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa. Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng. Riêng đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng không có mặt. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị C được ly hôn anh M. Giao cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Giàng A Ch. Về tài sản chung, tài sản riêng và về cấp dưỡng nuôi con, nghĩa vụ chung về tài sản, đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng, sau khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 29/10/2025 và ngày 19/11/2025 nhưng không tiến hành hòa giải được, do bị đơn là anh Giàng A M vắng mặt không có lý do nên Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử công khai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXX – ST ngày 28 tháng 11 năm 2025. Tuy nhiên, do bị đơn là anh Giàng A M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân, chị Thào Thị C và anh Giàng A M xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quan hệ hôn nhân giữa chị Thào Thị C và anh Giàng A M được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp kể từ ngày 16 tháng 01 năm 2023 (ngày đăng ký kết hôn).
Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm sống giữa vợ và chồng có nhiều khác biệt, vợ chồng không tôn trọng nhau, chị C và anh M đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh M và chị C đều không có giải pháp phù hợp để hàn gắn mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tình cảm vợ chồng không còn; tình trạng hôn nhân là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C.
[3] Về con chung, vợ chồng anh M, chị C có một người con chung là cháu Giàng A Ch, hiện đang do anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Ch sinh sống cùng với gia đình anh M từ nhỏ, điều kiện sống cơ bản được đảm bảo. Xét điều kiện, khả năng của chị C và anh M, việc tiếp tục giao cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Ch và cũng phù hợp với ý kiến, nguyện vọng của chị C, nên không cần phải thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung, xét việc chị C hiện không có khả năng cấp dưỡng nuôi con chung, do không có việc làm, không có thu nhập, đang sống nhờ vào bố mẹ đẻ. Anh Giàng A M là người trực tiếp nuôi con cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, đương sự không yêu cầu, do đó Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí, chị C sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa đương sự đề nghị được miễn án phí; căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho chị C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 207 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; điểm đ khoản 1 Điều 12, các Điều 14, 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Thào Thị C và anh Giàng A M.
2. Về con chung: Giao cho anh Giàng A M trực tiếp nuôi con chung là cháu Giàng A Ch, sinh ngày 07/01/2021 cho đến khi cháu Giàng A Ch thành niên (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn, chị Thào Thị C và anh Giàng A M vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Thào Thị C được miễn nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị Thào Thị C 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã thu theo biên lai thu số: 277 ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/01/2026), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - Toà án tỉnh; - Các đương sự; - VKSND khu vực 5 - Sơn La; - Phòng THADS khu vực 5; - UBND xã Gia Phù; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt |
Bản án số 02/2026/HNGĐ- ST ngày 06/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 02/2026/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
