Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

Bản án số: 02/2026/HNGĐ- ST
Ngày: 05/01/2026
V/v “Ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Thảo, bà Mạc Thúy Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 254/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/12/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T, sinh ngày 05/5/1975; Căn cước công dân số: 030075016430; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố số A Bình Dương, phường C, thành phố Hải Phòng; hiện đang lao động tại Angola (địa chỉ: Thành phố L, tỉnh Moxico, Angola).

- Bị đơn: Chị Phương Thị T1, sinh ngày 18/6/1980; Căn cước công dân số: 030180016195; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố số A Bình Dương, phường C, thành phố Hải Phòng; hiện đang lao động tại Đài Loan.

Người đại diện theo uỷ quyền nhận văn bản tố tụng của anh T: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng.

Anh T, chị T1 và chị C đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/7/2025 và bản tự khai ngày 29/7/2025, anh Vũ Văn T trình bày:

Anh và chị Phương Thị T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là phường C, thành phố Hải Phòng) vào ngày 10/12/1999. Sau khi kết hôn, anh và chị T1 về chung sống cùng nhau tại khu dân cư S Bình Dương, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là khu dân cư S Bình Dương, phường C, thành phố Hải Phòng). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì để phát triển kinh tế gia đình chị T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan còn anh ở nhà làm việc và chăm sóc gia đình, con cái. Thời gian đầu khi hai vợ chồng xa cách nhau thì anh chị vẫn liên lạc, chuyện trò và quan tâm nhau. Đến khoảng năm 2011 thì anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã và do sống xa nhau, mỗi người ở một nước khác nhau nên không có sự đồng cảm, chia sẻ, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến tình cảm vợ chồng nguội lạnh dần. Do ở nhà làm ăn kinh tế khó khăn nên năm 2012 thì anh gửi 02 con chung cho bố mẹ đẻ của anh nuôi dưỡng giúp để anh yên tâm đi lao động tại Angola, cũng từ đó đến nay anh chị ít liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Đến nay, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1.

Về con chung: Anh và chị T1 có 02 con chung là Vũ Thị Hạ T2 sinh ngày 21/12/1998 và Vũ Văn H sinh ngày 19/7/2007 hiện cả 02 con chung đã trên 18 tuổi, khỏe mạnh nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết về việc nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bà Nguyễn Thị T3 (mẹ đẻ anh T) trình bày:

Anh T và chị T1 kết hôn với nhau năm 1999. Sau khi kết hôn anh chị ở tại gia đình bà. Quá trình chung sống anh chị có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do năm 2010 gia đình vay tiền lo cho chị T1 đi lao động tại Đài Loan. Chị T1 đi được vài tháng thì chị T1 gọi điện về bảo anh T phải lo trả tiền lãi khoản vay lo cho chị đi Đài Loan. Anh T khi đó làm thợ xây, không có người cai quản nên thua lỗ. Mặt khác anh T phải nuôi 02 con mà chị T1 lại không gửi tiền về. Vợ chồng anh chị xảy ra cãi nhau qua điện thoại. Từ đó anh chị sống ly thân. Anh T cũng có người phụ nữ khác. Anh chị sống ly thân đã hơn 10 năm chị T1 không qua lại gia đình bà. Khi chồng bà chết chị T1 cũng không thăm hỏi. Chị T1 và anh T có 02 con chung hiện đã trên 18 tuổi. Nay anh T xin ly hôn chị T1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bà Phạm Thị C1 (mẹ đẻ chị T1) trình bày:

Quá trình chung sống anh T và chị T1 có xảy ra mâu thuẫn. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên vào năm 2010 chị T1 đi lao động tại Đài Loan. Chị T1 đi được khoảng 06 tháng thì anh T ở nhà có người phụ nữ khác, không chung thủy với chị T1. Sau đó gia đình anh T còn nói xấu gia đình bà và chị T1. Anh chị sống ly thân từ năm 2010 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh T và chị T1 không quan tâm đi lại liên lạc với nhau. Chị T1 đã nhiều lần về Việt Nam nhưng chỉ về ở cùng gia đình bà, không về chung sống với anh T. Anh T cũng không qua lại gia đình bà từ năm 2010 đến nay. Chị T1 đang lao động tại Đài Loan nhưng địa chỉ cụ thể ở đâu bà không biết. Bà và chị T1 vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho chị T1 bà đã nhận thay, bà đã thông báo cho chị T1 biết, quan điểm của chị T1 là chị đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị. Chị T1 và anh T có 02 con chung hiện đã trên 18 tuổi. Nay anh T xin ly hôn chị T1, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn vì anh chị đã ly thân hơn 10 năm, không thể quay về chung sống được nữa.

Tại phiên toà các đương sự đều vắng mặt.

Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của các đương sự.

Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • - Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T, xử cho anh Vũ Văn T được ly hôn với chị Phương Thị T1.
  • - Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  • - Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Vũ Văn T có đơn yêu cầu xin ly hôn đối với chị Phương Thị T1. Chị T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ dân phố số A Bình Dương, phường C, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án. Anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị T1 đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Vũ Văn T thấy rằng: Anh Vũ Văn T và chị Phương Thị T1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay phường C, thành phố Hải Phòng) vào ngày 10/12/1999 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Do chị T1 đi lao động tại Đài Loan, cuộc sống vợ chồng xa cách nhau, mỗi người ở một nơi nên không có sự đồng cảm, chia sẻ, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến tình cảm vợ chồng mất mát dần. Anh chị đã sống ly thân trên 10 năm, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh T, xử cho anh T được ly hôn chị T1 là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh T và chị T1 có 02 con chung là Vũ Thị Hạ T2 sinh ngày 21/12/1998 và Vũ Văn H sinh ngày 19/7/2007. Hiện cả 02 con chung của anh chị đã trên 18 tuổi, khỏe mạnh, anh T không yêu cầu Toà án giải quyết về việc nuôi con nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn T được ly hôn chị Phương Thị T1.
  2. Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Vũ Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003683 ngày 13 tháng 10 năm 2025 Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, anh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 9 - Hải Phòng;
  • - UBND phường Chí Linh, TP. Hải Phòng (Để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Thi hành án dân sự TP. Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Văn Quyết
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/HNGĐ- ST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 02/2026/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn anh Vũ Văn T và bị đơn chị Phương Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger