Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/DS-PT

Ngày: 05/01/2026

V/v: “Yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế và yêu cầu bồi thường thiệt hại ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Thế Bình; Bà Nguyễn Thị Hằng.

Thư ký phiên toà: Ông Chu Quang Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 336/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế và yêu cầu bồi thường thiệu hại”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DSST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • - Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Viết S, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố H, xã B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1944; Anh Trần Văn Q, sinh năm 1969 (đều vắng mặt); Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H tỉnh Bắc Ninh.
  • - Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ I, khu C, phường H, tỉnh Quảng Ninh (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Lê Thị L: Bà Giáp Thị H - TGVPL thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Văn Q1- Sinh năm 1964 (con ông B) (có mặt);
  2. Bà Trần Thị G - Sinh năm 1968 (con ông B) (có mặt);
  3. Bà Trần Thị L1- Sinh năm 1970( con ông B) (có mặt);
  4. Bà Trần Thị H1- Sinh năm 1953 ( Vợ hai ông B) (vắng mặt);
  5. Bà Đàm Thị H2 – Sinh năm 1974 (Vợ anh V) (có mặt);
  6. Bà Trần Thị V1- Sinh năm 1977 (Vợ ba ông B) (vắng mặt);
  7. Anh Trần Văn G1- Sinh năm 1997 (Con anh V) (có mặt);
  8. Anh Trần Văn S1- Sinh năm 1995 (Con anh V) (vắng mặt);
  9. Chị Nguyễn Thị L2- Sinh năm 2001 (Con dâu anh V) (vắng mặt);
  10. Cùng địa chỉ: thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

  11. Anh Trần Văn S2- Sinh năm 1972 (Con bà L – Ông G2) (vắng mặt); Địa chỉ: thôn G, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
  12. Anh Trần Văn C- Sinh năm 1980 ( Con bà L – Ông G2) (có mặt); Địa chỉ: Tổ I, khu C, phường H, tỉnh Quảng Ninh.
  13. Anh Trần Văn T- Sinh năm 1983 (Con bà L – Ông G2) (vắng mặt);
  14. Anh Trần Văn C1- Sinh năm 1986; (Con bà L – Ông G2) (vắng mặt);
  15. Cùng địa chỉ: thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

  16. Anh Trần Minh N- Sinh năm 1976 (Con bà L – Ông G2) (vắng mặt);
  17. Địa chỉ: Thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

    Người đại diện theo ủy quyền của những người trên: Ông Trần Văn C, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ I, khu C, phường H, tỉnh Quảng Ninh.

  18. Bà Trương Thị D, sinh năm 1958 (Con ông G2 và bà vợ cả) (vắng mặt); Địa chỉ: thôn G, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
  19. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1953 (Con ông Trần Văn R) (có mặt);
  20. Anh Trần Văn Y, sinh năm 1960 (Con ông Trần Văn R) (vắng mặt);
  21. Cùng địa chỉ: Thôn B, xã X, tỉnh Bắc Ninh.

  22. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1970 (Con ông Trần Văn C2) (vắng mặt);
  23. Anh Trần Văn L3, sinh năm 1972 (Con ông Trần Văn C2) (vắng mặt);
  24. Chị Trần Thị L4, sinh năm 1974 (Con ông Trần Văn C2) (vắng mặt);
  25. Chị Trần Thị T2, sinh năm 1976 (Cơn ông Trần Văn C2) (vắng mặt);
  26. Chị Trần Thị T3, sinh năm 1977 ( Cơn ông Trần Văn C2) (vắng mặt);
  27. Cùng địa chỉ: Thôn K, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

  28. Chị Trần Thị H3, sinh năm 1983 (Con ông Trần Văn C2) (vắng mặt); Địa chỉ: thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
  29. Chị Trần Thị H4, sinh năm 1982 (Con ông Trần Văn C2) (vắng mặt); Địa chỉ: thôn N, xã X, tỉnh Bắc Ninh.
  30. Anh Trần Văn T4, sinh năm 1980 (Con bà Trần Thị C3) (vắng mặt);
  31. Ông Trần Minh Đ1, sinh năm 1968 (Con bà Trần Thị C3) (vắng mặt);
  32. Ông Trần Văn C4, sinh năm 1970 (Con bà Trần Thị C3) (vắng mặt);
  33. Ông Trần Văn T5, sinh năm 1963 (Con bà Trần Thị C3) (có mặt);
  34. Cùng địa chỉ: thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

  35. Bà Nguyễn Thị Q2, sinh năm 1973 (Con bà Trần Thị C3) (vắng mặt); Địa chỉ: số nhà C, dốc M, tp Hà Nội.
  36. Bà Trần Thị L5, sinh năm 1964 (Con bà Trần Thị C3) (vắng mặt);
  37. Bà Trần Thị S3, sinh năm 1958 (Con bà Trần Thị C3) (vắng mặt);
  38. Cùng địa chỉ: thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

- Người làm chứng:

  1. Ông Đặng Trần L6, sinh năm 1930 (vắng mặt); Địa chỉ; thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Ông Đặng Văn L7, sinh năm 1957 (có mặt);
  3. Ông Trần Văn T5, sinh năm 1963 (có mặt);
  4. Ông Đào Văn N1, sinh năm 1952 (vắng mặt);
  5. Ông Đào Văn H5, sinh năm 1956 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

Người kháng cáo: Anh Trần Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là ông Trần Văn V và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Viết S trình bày:

Cụ Trần Văn K là ông nội của ông Trần Văn V; Cụ K cùng vợ sinh được sáu người con gồm Trần Văn C5 (liệt sỹ); Trần Văn R (đã chết); Bà Trần Thị C3 (đã chết); Trần Văn G2 (đã chết); Trần Văn B (đã chết); Trần Văn C2 (đã chết tháng 12/2024).

Khi cụ K còn sống có một thửa đất ở tại thôn C, xã Đ (nay là thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23; Diện tích 635.3m² địa chỉ tại thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh ) và tài sản trên đất (gọi tắt là thửa đất 123), sau khi cụ K chết thì các con cụ K vẫn sinh sống trên thửa đất này, sau khi các con lớn đã lập gia đình ra ở riêng, đến năm 1978 thì không có ai sinh sống trên thửa đất mà cụ K để lại, sau đó các con của cụ K gồm ông R, bà C3, ông G2, ông B, ông C2 đã họp và thống nhất để anh Trần Văn Đ về thửa đất trên ở, để thờ cúng, nhưng anh Đ không về, sau đó các ông lại bảo anh Trần Văn Y về, nhưng anh Y cũng không về, sau đó ông Trần Văn R đã cử ông B là bố đẻ ông V về thửa đất trên ở.

Năm 1979 ông B có mua thêm một mảnh đất của của bà B1 -Túc, liền kề với nhà ông K1. Năm 1980 bố ông (là ông B) lên ở và quản lý thửa đất này. Năm 1982 ông B (bố ông) làm năm gian nhà cấp 4, ba gian nhà ngang, 2 gian bếp, 2 gian chuồng lợn và mọi công trình trên đất để phục vụ cuộc sống. Trong quá trình quản lý sử dụng bố ông trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả, chăn nuôi trên thửa đất này. Hàng năm bố ông thực hiện việc đăng ký sử dụng đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về sử dụng đất với nhà nước. Bố ông quản lý sử dụng liên tục từ năm 1980 đến năm 2017 bố ông chết, trong quá trình quản lý sử dụng đất bố ông không tranh chấp với ai. Anh em trong gia đình ông họp và nhất trí làm theo nguyện vọng của bố ông. Biên bản họp gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Từ đó gia đình ông V thay bố ông quản lý sử dụng thửa đất, đồng thời tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Đến năm 2019 thì vợ chồng ông V đã giao thửa đất trên cho vợ chồng anh S là con quản lý.

Ngày 05 tháng 7 năm 2020 khi gia đình ông vắng nhà bà Lê Thị L (Vợ ông Trần Văn G2) cùng các con của bà L đã đến nhà ông đang quản lý sử dụng phá khóa cổng, vào phá khóa cửa vào xâm nhập chỗ ở trái phép, chiếm nhà, chiếm đất và hủy hoại tài sản của gia đình ông đang quản lý, sử dụng.

Hiện nay bà L cùng các con bà L vẫn đang chiếm giữ trái phép di sản là thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23, diện tích là 635,3m² thửa đất này bố mẹ ông đã quản lý sử dụng từ năm 1979. Bao gồm nhà, đất và tài sản gắn liền trên đất mà bố mẹ ông tạo dựng trong thời gian quản lý, sử dụng. Đồng thời chiếm hữu tài sản của bố ông gây dựng nên trong quá trình sống quản lý trên thửa đất. Bà L cùng các con đã hủy hoại tài sản, chặt phá cây cối hoa mầu của gia đình ông cụ thể như sau:

  • Chặt 20 cây xoan đường kính to nhỏ khác nhau trị giá 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng);
  • Chặt 03 cây Bưởi trị giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng);
  • Chặt 02 cây cau trị giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng);
  • Chặt 02 cây ổi trị giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng);
  • Chặt một cây đu đủ trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng);
  • Chặt 2 bụi tre trị giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng);
  • Phá hủy 04 cánh cửa nhà trên trị giá 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng);
  • Phá 01 khóa cổng chữ U trị giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng);
  • Phá 01 khóa việt tiệp trị giá 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng);
  • Phá đường dây điện và bóng điện trị giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng);
  • Lát lại sân gạch trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);
  • Phá 02 gian chuồng lợn trị giá 15.000.000 đồng (mười năm triệu đồng);
  • Thay đổi hiện trạng nhà: lát lại nền nhà, đập tường trát lại trị giá 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng);
  • Phá một bộ đồ nấu riệu trị giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);
  • Phá một bộ hoành phi câu đối trị giá 5.000.000₫ (năm triệu đồng);
  • Phá 02 giường gỗ lim, một giường tre trị giá 5.000.000₫ (năm triệu đồng);
  • Phá một bộ giường thờ trị giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng);
  • Phá một bộ khuôn tranh trị giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);
  • 01 di ảnh thờ, 01 bát hương, 02 lọ lộc bình, 02 lọ hoa, 01 khung chúc thọ,01 đĩa để hoa quả trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng);
  • Phá 01 ti vi, 01 đầu đĩa, 01 tủ tường trị giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng);
  • Một hòm tôn bao gồm số sách đòi nợ của gia đình trị giá 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
  • Đốt cháy 1,3 mẫu rơm trị giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng);
  • 03 cái xoong và bát đĩa trị giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng);
  • 02 quạt màn, 02 chiếc dạt giường, 02 chiếc chiếu, 02 cái màn, 04 cái gối trị giá 1,600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng);
  • Phá 01 bờ tường gạch ở ngõ trị giá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);
  • 02 cánh cổng sắt trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng);
  • 05 ang đựng rượu to, 05 ang đựng rượu nhỏ trị giá 5.000.000₫ (năm triệu đồng);
  • Ngày 29 tháng 7 năm 2022 bà L cùng các con tiếp tục phá 03 gian nhà ngang trị giá 40.000.000 đồng, hai gian bếp trị giá 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) và một cái cổng trị giá 10 triệu.

Tổng tiệt hại mà gia đình Bà L gây hại cho gia đình ông là 324.880.000 đồng (Ba trăm hai mươi bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) vậy ông làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh) giải quyết những vấn đề sau:

Yêu cầu bà Lê Thị L và các con bà L trả lại quyền quản lý di sản các cụ để lại là thửa đất số: 123, tờ bản đồ số 23, diện tích 635,3m², địa chỉ thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Với lý do gia đình ông là người quản lý di sản từ năm 1979 cho đến nay và chưa có đồng thừa kế nào họp về phân chia di sản hay có đơn yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật.

Yêu cầu tuyên bố thời hiệu chia thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ Trần Văn K để lại là thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; Diện tích 635,3m²; Vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) là hết thời hiệu chia thừa kế.

Yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất mua thêm thuộc về gia đình ông Trần Văn B.

Yêu cầu bà Lê Thị L và các con bà L bồi thường thiệt hại cho gia đình ông những gì mà bà L cùng con bà L gây nên cụ thể; Buộc bà L và các con bồi thường tổng số tiền thiệt hại là 324.880.000₫ (Ba trăm hai mươi bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa ông xác định đối với phần diện tích đất mà ông B mua thêm, không có căn cứ, giấy tờ gì, hiện nay đã được nhập thành một thửa, ông xác định phần diện tích đất mua thêm ông không đề nghị gì mà xác định nằm trong tổng diện tích đất 635,3m² di sản do cụ K để lại. Nay ông vẫn giữ nguyên yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế.

Bị đơn là bà Lê Thị L do anh Trần Văn C là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà L khẳng định thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23 (theo bản đồ đo vẽ năm 2012), cùng khu đất ở tại khu Đ và toàn bộ hơn 10 mẫu đất nông nghiệp thuộc địa phận thôn C là tài sản hợp pháp của vợ chồng bà và ông Trần Văn G2, được hình thành, quản lý và sử dụng ổn định, liên tục qua nhiều thời kỳ.

Nguồn gốc thửa đất là do cụ Trần Văn K (bố chồng bà) quản lý từ trước năm 1958. Do hoàn cảnh khó khăn, cụ K không đủ khả năng nộp thuế đất ở và đất nông nghiệp nên bị Nhà nước tạm giam tại trại giam K2 (tỉnh Bắc Giang). Khi đó, chính quyền địa phương thông báo nếu không có người đứng ra nộp số thuế còn thiếu thì toàn bộ đất đai và tài sản sẽ bị tịch thu. Vì vậy, ông Trần Văn G2 là chồng bà - con trai của cụ K - đã tự nguyện đứng ra nộp toàn bộ số thuế để nhà nước thả cụ K và gia đình bà có thể giữ lại toàn bộ ruộng đất, tài sản của gia đình.

Tháng 7/1959, cụ K đột ngột qua đời. Sau đó, UBND xã H (nay là xã Đ) cùng ông Trần Văn R (anh trai ông G2) đã thống nhất bàn giao toàn bộ ruộng đất và tài sản cho ông Trần Văn G2 quản lý, sử dụng, đồng thời ông G2 phải tiếp tục thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Từ thời điểm này, ông G2 là người trực tiếp chịu trách nhiệm về toàn bộ đất đai, tài sản.

Trong quá trình sử dụng đất, ông G2 nhiều lần thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: có thời điểm bị tạm giam do thiếu thuế; cho Nhà nước và bộ đội trưng dụng nhà, đất phục vụ kháng chiến giai đoạn 1965–1972; được Nhà nước ghi nhận công lao và tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì năm 1999. Trong thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, ông G2 là người trực tiếp thỏa thuận, dồn đổi ruộng đất với hợp tác xã, hình thành các thửa ruộng tồn tại ổn định cho đến nay.

Đối với đất ở tại thôn C (nay là thửa 123), tại thời điểm ông G2 tiếp quản còn có ngôi nhà ngói 5 gian. Do hoàn cảnh khó khăn, ông đã bán 2 gian, còn 3 gian được vợ chồng bà tháo dỡ, di chuyển về khu Đ để ở và sử dụng công khai, Khi vợ chồng bà thực hiện công việc này không ai có quyền cản trở gì từ phía gia đình cũng như các cấp chính quyền thời bấy giờ. Ngoài ra, năm 1979 vợ chồng bà mua thêm đất liền kề, mở rộng diện tích sử dụng. Năm 1982, vợ chồng bà tự bỏ tiền, vật liệu, thuê nhân công xây dựng nhà cửa và các công trình phụ trên đất.

Năm 1983, ông B xin ở nhờ để trông nom nhà cửa. Tuy nhiên, ông B nhiều lần đề nghị chuyển nhượng đất nhưng vợ chồng bà kiên quyết không đồng ý. Trước khi qua đời năm 2005, ông G2 đã khẳng định rõ đất đai không cho ông B và yêu cầu sau khi ông mất phải trả lại cho bà hoặc con trai trưởng để làm nơi thờ cúng tổ tiên.

Sau khi ông G2 chết, gia đình bà đã nhiều lần đòi đất nhưng gia đình ông B không trả. Vì vậy năm 2008 con trai bà đã làm đơn gửi lên UBND xã Đ can thiệp, nhưng các lần hòa giải tại UBND xã Đ đều không thành. Sau khi ông B qua đời, ông Trần Văn V cho rằng có di chúc để lại nhà đất, nhưng không xuất trình được tài liệu hợp pháp chứng minh quyền sử dụng đất. Các đơn tố cáo, khởi kiện của ông V có nội dung mâu thuẫn, không thống nhất về nguồn gốc đất, đồng thời ông V không thuộc hàng thừa kế trực tiếp và không có giấy tờ theo quy định pháp luật đất đai.

Các cơ quan chức năng đã xác định nội dung tố cáo của ông V là không có cơ sở. Việc bà Q3 về sửa chữa, sinh sống trên đất năm 2020 là nhằm bảo vệ tài sản hợp pháp và thực hiện việc thờ cúng tổ tiên theo di nguyện của chồng.

Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời bà có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án: Bác bỏ hoàn toàn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Khẳng định quyền sử dụng đất thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23 ở thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) thuộc về vợ chồng bà là hợp pháp; Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn nộp đơn xin rút đơn phản tố và đề nghị Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bà Lê Thị L.

Bị đơn anh Trần Văn Q do ông Trần Văn C là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Lời khai của anh Q phù hợp với ý kiến trình bày của bà Lê Thị L. Ngoài ra, ông Q trình bày thêm: hiện nay bà Lê Thị L đang ở và quản lý nhà và toàn bộ thửa đất này, ông cũng chưa được giao quản lý hoặc trông nom gì, chỗ ở hiện tại của ông hiện nay thuộc thôn C cách thửa đất đang tranh chấp 3km, được hiểu là ông chưa có liên quan gì. Vì vậy ông V khởi kiện ông là hoàn toàn vô lý và không đúng đối tượng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm các anh Trần Văn N2; Trần Văn C1; Trần Văn S2; Trần Văn T; Trần Văn C đều do anh Trần Văn C là người đại diện theo ủy quyền lời khai phù hợp với ý kiến trình bày của bị đơn bà Lê Thị L.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Trương Thị D trình bày:

Bà là con của ông Trần Văn G2; mẹ bà là bà Trương Thị B2, do bố mẹ bà không hợp nhau nên đã ly hôn từ năm 1960, sau khi ly hôn bà chung sống cùng mẹ và ông bà ngoại.

Ông G2 sau đó kết hôn cùng bà Lê Thị L, sau khi bà lớn thì bà vẫn thường xuyên về thăm bố là ông Trần Văn G2, khi đó bố bà sinh sống cùng ông Trần Văn B; Trần Văn C2 và chị gái là bà Trần Thị C3 trên thửa đất đang có tranh chấp, sau đó bố bà có chuyển về khu đất ở Đ, thửa đất trên bố bà cho ông B mượn ở nhờ, trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4.

Bà xác định thửa đất trên là của bố bà ông Trần Văn G2, bà không có đóng góp gì đối với tài sản trên đất và không có yêu cầu đề nghị gì.

Bà đề nghị cho bà xin vắng mặt khi hòa giải và xét xử.

Anh Trần Văn Đ, anh Trần Văn Y trình bày:

Bố ông là Trần Văn R (đã chết); Ông nội là Trần Văn K đã chết từ lâu.

Cụ Trần Văn K có thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23; Vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang, khi cụ K chết không để lại di chúc và cũng không cho ai thửa đất trên.

Khi cụ K chết thì các con của cụ K gồm ông R; bà C3; ông G2; ông B; ông C2 có họp và thống nhất cho ông là Trần Văn Đ về sinh sống trên thửa đất này để thờ cúng, nhưng ông từ chối, sau đó chuyển sang cho anh Trần Văn Y là em ông về, nhưng ông Y cũng từ chối không về, sau đó bố ông là Trần Văn R đã cử ông Trần Văn B về ở trên thửa đất trên, năm 1979 thì ông B có mua thêm một phần diện tích đất của nhà ông B1 - Túc từ năm 1980 thì ông B sinh sống trên thửa đất này, năm 1982 thì ông B làm nhà và công trình trên đất.

Ông xác định thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của gia đình ông B, ông đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng thửa đất trên thuộc về gia đình ông Trần Văn V.

Ông Trần Văn T1; Trần Văn L3; Trần Văn T4; Trần Văn M; Trần Thị L4; Trần Thị T2; Trần Thị T3; Trần Thị H3; Trần Thị H4 trình bày: Ông, bà là con của ông Trần Văn C2, ông C2 chết tháng 12/2024; ông nội các ông, bà là cụ Trần Văn K đã chết từ lâu, cụ K sinh được sáu người con gồm ông Trần Văn C5 (liệt sĩ); Ông Trần Văn R đã chết; bà Trần Thị C3 đã chết; ông Trần Văn G2 (đã chết); Trần Văn B (đã chết) và ông Trần Văn C2 ( đã chết)

Về thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23 ở thuộc thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang là của cụ Trần Văn K, khi cụ K chết không để lại di chúc và cũng chưa cho bất cứ ai, do vậy các anh chị xác định bố anh, chị là Trần Văn C2 là hàng thừa kế thứ nhất của cụ K cũng có quyền lợi đối với thửa đất trên.

Việc gia đình ông Trần Văn V yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế đối với thửa đất trên thì các anh, chị không đồng ý. Trường hợp nếu các bên có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế thì các anh, chị có yêu cầu sau. Đồng thời có đơn xin vắng mặt khi hòa giải và xét xử.

Anh Trần Văn T4; Ông Trần Minh Đ1; Ông Trần Văn C4; Ông Trần Văn T5; Bà Nguyễn Thị Q2; Bà Trần Thị L5; Bà Trần Thị S3 trình bày: Các ông, bà là con của bà Trần Thị C3, bà C3 đã chết từ lâu.

Cụ K sinh được sáu người con gồm ông Trần Văn C5 (liệt sĩ); Ông Trần Văn R (đã chết); bà Trần Thị C3 đã chết; ông Trần Văn G2 (đã chết); Trần văn B (đã chết) và ông Trần Văn C2.

Về thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23 ở thuộc thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang là của cụ Trần Văn K, khi cụ K chết không để lại di chúc và cũng chưa cho bất cứ ai, do vậy các anh chị xác định mẹ anh, chị là Trần Thị C3 là hàng thừa kế thứ nhất của cụ K cũng có quyền lợi đối với thửa đất trên.

Việc gia đình ông Trần Văn V yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế đối với thửa đất trên thì các anh, chị không đồng ý. Trường hợp nếu các bên có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế thì các anh, chị có yêu cầu sau. Đồng thời đề nghị xin vắng mặt khi hòa giải và xét xử.

Bà Trần Thị G, bà Trần Thị L1, ông Trần Văn Q1 trình bày: Bố ông, bà là Trần Văn B, ông nội là cụ Trần Văn K. Khi cụ K còn sống có một thửa đất ở thại thôn C, xã Đ (nay là thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23; Diện tích 635.3m² và tài sản trên đất, sau khi cụ K chết thì các con cụ K vẫn sinh sống trên thửa đất này, sau khi các con lớn đã lập gia đình ra ở riêng, đến năm 1978 thì không có ai sinh sống trên thửa đất mà cụ K để lại, sau đó các con của cụ K gồm ông D2, bà C3, ông G2, ông B, ông C2 đã họp và thống nhất để anh Trần Văn Đ về thửa đất trên ở, để thờ cúng, nhưng anh Đ không về, sau đó các ông lại bảo anh Trần Văn Y về, nhưng anh Y cũng không về, sau đó ông Trần Văn R đã cử ông B là bố đẻ ông V về thửa đất trên ở.

Năm 1979 bố ông có mua thêm một mảnh đất của của bà Bẩy T6, liền kề với nhà ông K1. Năm 1980 bố ông (là ông B) lên ở và quản lý thửa đất này. Năm 1982 ông B (bố ông) làm năm gian nhà cấp 4, ba gian nhà ngang, 2 gian bếp, 2 gian chuồng lợn và mọi công trình trên đất để phục vụ cuộc sống. Trong quá trình quản lý sử dụng bố ông trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả, chăn nuôi trên thửa đất này. Hàng năm bố ông thực hiện việc đăng ký sử dụng đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về sử dụng đất với nhà nước. Bố ông quản lý sử dụng liên tục từ năm 1980 đến năm 2017 bố ông chết, trong quá trình quản lý sử dụng đất bố ông không tranh chấp với ai. Trước khi bố ông chết Bố ông có giao lại cho ông Trần Văn V quản lý và trông coi sử dụng thửa đất có số thửa là: 123, tờ bản đồ số 23, địa chỉ thửa đất thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Anh em trong gia đình ông họp và nhất trí làm theo nguyện vọng của bố ông. Biên bản họp gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Từ đó gia đình ông V thay bố ông quản lý sử dụng thửa đất mà bố ông đang quản lý để lại, đồng thời tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.

Ngày 05 tháng 7 năm 2020 khi gia đình ông V vắng nhà bà Lê Thị L (Vợ ông Trần Văn G2) cùng các con của bà L đã đến nhà ông V đang quản lý sử dụng phá khóa cổng, vào phá khóa cửa vào xâm nhập chỗ ở trái phép, chiếm nhà, chiếm đất và hủy hoại tài sản của gia đình ông V đang quản lý, sử dụng. Hiện nay Bà L cùng các con bà L vẫn đang chiếm giữ trái phép di sản là thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23, diện tích là 635,3m² thửa đất này bố mẹ ông đã quản lý sử dụng từ năm 1979. Bao gồm nhà, đất và tài sản gắn liền trên đất mà bố ông tạo dựng trong thời gian quản lý, sử dụng. Đồng thời chiếm hữu tài sản của bố ông gây dựng nên trong quá trình sống quản lý trên thửa đất. Bà L cùng các con đã hủy hoại tài sản, chặt phá cây cối hoa mầu của gia đình.

Ông Q1, bà G, bà L1 yêu cầu bà Lê Thị L và các con bà L trả lại quyền quản lý di sản các cụ để lại là thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23; Diện tích 635,3m² cho ông Trần Văn V quản lý.

Anh Trần Văn S1 trình bày: Bố anh là ông Trần Văn V; ông nội là ông Trần Văn B về thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ từ khi anh sinh ra thì ông nội và gia đình đã quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên, năm 2017 thì ông nội là Trần Văn B chết, bố anh là ông Trần Văn V tiếp tục quản lý và sử dụng thửa đất nêu trên. Đến năm 2019 thì bố, mẹ giao cho anh quản lý thửa đất trên, ngày 05/7/2020 khi vợ chồng anh không có nhà thì bà L cùng các con gồm ông Q, ông C; ông C1; ông T; ông S2 đã cắt khóa, đột nhập chiếm giữ trái phép thửa đất mà gia đình anh đang quản lý, hủy hoại tài sản của gia đình anh, nay anh đề nghị Tòa án buộc gia đình bà L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho gia đình anh theo đơn khởi kiện mà ông Trần Văn V là bố anh.

Anh Trần Văn G1 trình bày: Bố anh là ông Trần Văn V; ông nội là ông Trần Văn B về thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ từ khi anh sinh ra thì thì ông nội và gia đình đã quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên, năm 2017 thì ông nội là Trần Văn B chết, bố anh là ông Trần Văn V tiếp tục quản lý và sử dụng thửa đất nêu trên. Đến năm 2019 thì bố, mẹ giao cho vợ chồng anh S1 quản lý thửa đất trên, ngày 05/7/2020 khi vợ chồng anh S1 không có nhà thì bà L cùng các con gồm ông Q, ông C; ông C1; ông T; ông S2 đã cắt khóa, đột nhập chiếm giữ trái phép thửa đất mà gia đình anh đang quản lý, hủy hoại tài sản cảu gia đình anh, nay anh đề nghị Tòa án buộc gia đình bà L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho gia đình anh theo đơn khởi kiện mà ông Trần Văn V là bố anh.

Chị Nguyễn Thị L2 trình bày: Chị là vợ của anh Trần Văn S1, ông Trần Văn V là bố chồng, sau khi chị về làm dâu thì thấy bố mẹ chồng là ông V và bà H3 quản lý thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23. Đến năm 2019 thì bố, mẹ giao cho vợ chồng chị quản lý thửa đất trên, ngày 05/7/2020 khi vợ chồng chị không có nhà thì bà L cùng các con gồm ông Q, ông C; ông C1; ông T; ông S2 đã cắt khóa, đột nhập chiếm giữ trái phép thửa đất mà gia đình chị đang quản lý, hủy hoại tài sản của gia đình chị, nay chị đề nghị Tòa án buộc gia đình bà L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho gia đình chị theo đơn khởi kiện mà ông Trần Văn V khởi kiện.

Bà Đàm Thị H2 trình bày: Chồng bà là ông Trần Văn V; bố chồng là ông Trần Văn B về thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ từ khi chị về làm dâu thì bố mẹ chồng đã quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên, năm 2016 bố chồng là ông B đã giao cho vợ chồng chị quản lý sử dụng thửa đất trên. Đến năm 2019 thì vợ chồng chị giao cho vợ chồng anh S1 là con trai quản lý thửa đất trên, ngày 05/7/2020 khi vợ chồng anh S1 không có nhà thì bà L cùng các con gồm ông Q, ông C; ông C1; ông T; ông S2 đã cắt khóa, đột nhập chiếm giữ trái phép thửa đất mà gia đình con trai chị đang quản lý, hủy hoại tài sản của gia đình chị, nay chị đề nghị Tòa án buộc gia đình bà L phải bồi thường thiệt hạn về tài sản cho gia đình chị theo quy định của pháp luật

Yêu cầu gia đình bà L phải trả lại cho gia đình bà thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ.

Bà Trần Thị H6 trình bày: Bà là vợ của ông Trần Văn B, bà và ông B chung sống cùng nhau khoảng 10 năm, do bà và ông B không có con chung, sau đó bà bỏ về chung sống cùng cháu ruột. Về nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp do bà tuổi cao không nhớ bà không trình bày. Về việc anh Trần Văn V khởi kiện đối với gia đình ông G2 thì bà không liên quan và cũng không yêu cầu đòi hỏi gì. Bà có đơn xin vắng mặt khi hòa giải và xét xử.

Bà Trần Thị V1 trình bày: Bà là vợ của ông Trần Văn B, bà và ông B có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, sau khi kết hôn bà và ông B chung sống cùng nhau một thời gian, do bà và ông B cãi nhau, sau đó bà bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2004, từ đó giữa bà và ông B không có quan hệ gì nữa, việc tranh chấp đất đai giữa gia đình ông V và gia đình ông G2 thì bà không liên quan và không có yêu cầu đòi hỏi gì. Bà có đơn xin vắng mặt khi hòa giải và xét xử.

Đại diện UBND xã Đ cung cấp: Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa gia đình ông V và bà L (thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23) tại thôn C, xã Đ là đất của hộ gia đình ông Trần Văn K được sử dụng vào mục đính đất ở từ trước năm 1980. Quá trình sử dụng đất khi cụ K chết, hộ gia đình K gồm con, cháu chưa thống nhất được thỏa thuận về tài sản do vậy dẫn đến tranh chấp về đất đai; thửa đất gia đình chưa kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vậy chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hộ gia đình ông Trần Văn G2, Trần Văn B, Trần Văn C2 là hộ cá thể ngoài hợp tác xã. Qua kiểm tra các sổ sách lưu trữ tại xã từ trước năm 2014 thì không có thông tin về thửa đất đang có tranh chấp.

Tại bản đồ địa chính chính quy đo đạc, nghiệm thu giai đoạn 2012- 2014 thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23 tại thôn C, xã Đ quy chụp mang tên ông Trần Văn V, lý do tại thời điểm đo đạc thì gia đình ông Trần Văn V đang sử dụng thửa đất trên.

Tại biên bản xác minh tại đại diện thôn C, xã Đ bà Lê Thị B3 trưởng thôn; Ông Trần Nguyễn Hồng T7 ban mặt trận làng cung cấp:

Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp số 123, tờ bản đồ 23, vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ là đất của cụ Trần Văn K, khi cụ K chết có để lại di chúc thửa đất trên cho ai hay không thì địa phương không được biết, nhưng từ khoảng năm 1983 thì gia đình ông B có sinh sống trên thửa đất trên được một thời gian thì chuyển về sinh sống ở Đ thuộc thôn C, xã Đ, thì thửa đất trên bỏ không.

Về nhà cửa trên đất do ai làm địa phương không nắm được. Tại thời điểm bà T8 (vợ ông B) chết năm 1995 thì địa phương có đọc điếu văn trên thửa đất này. Trong quá trình sử dụng đất, gia đình ông B và gia đình ông L6 có tranh chấp tiểu ngõ, chính quyền địa phương có giải quyết, năm nào thì không nhớ. Về sau từ năm 1995 đến nay việc ai quản lý sử dụng thửa đất này thôn không nắm được.

Tại biên bản làm việc ngày 12/3/2024 Ông Đỗ Văn D1 - cán bộ phụ trách thuế xã Đ: xác định hộ ông Trần Văn G2, ông Trần Văn B, ông Trần Văn C2 là hộ cá thể cá lẻ không thuộc thôn nào quản lý, qua kiểm tra sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà đất ở nông thôn từ năm 1992 đến năm 1994 thì cả hộ ông G2, ông B, ông C2 không thuộc trong thôn nào. Các thông báo thu thuế từ năm 1993 đến năm 1996 do nguyên đơn là ông V cung cấp do UBND xã Đ thông báo, còn nộp chưa thì không xác định được do không có biên lai hoặc phiếu thu. Từ năm 2018 đến năm 2019, ông Trần Văn V tự nguyện ra kê khai diện tích đất phi nông nghiệp và tự nguyện nộp thuế nhưng xã không thu.

Về nguồn gốc thửa đất là do cha ông để lại, trước đấy các gia đình ông G2, ông B, ông C2 quản lý sử dụng chung. Ông B có sinh sống trên thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23 vị trí tại thôn C, xã Đ, tại thời điểm năm 1995 bà Ngọ Thị T8 là vợ ông B chết trên thửa đất đó, sau khi bà T8 chết thì ông B lấy vợ khác và sinh sống trên thửa đất đó, cụ thể thửa đất trên ai là chủ sở hữu, ai xây dựng nhà cửa thì ông không nắm được.

Người làm chứng gồm ông Đặng Văn L7; Ông Đặng Văn N3; Ông Đào Văn H5 tại biên bản ghi lời khai ngày 10/3/2024 đều trình bày là người được ông Trần Văn B thuê chở vật liệu xây dựng gồm gạch; vôi; cát để xây nhà từ khoảng năm 1982.

Người làm chứng ông Đặng Trần L6 tại biên bản ghi lời khai trình bày: Về nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp giữa gia đình ông Trần Văn V và gia đình ông Trần Văn G2 là của cụ Trần Văn K, năm 1959 thì cụ K chết, thửa đất trên cụ K có để lại di chúc cho ai hay không thì ông không được biết, khoảng năm 1981 thì ông Trần Văn G2 có làm nhà, ông là người được gia đình ông G2 thuê xây dựng làm nhà. Đến khoảng năm 1983 thì ông G2 cho ông B ở nhờ trên thửa đất trên.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228; Khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 610, Điều 612, Điều 613, Điều 614; Điều 616, Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật Dân sự; Điều 98, Điều 100 của Luật Đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T9 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn V về việc buộc bà Lê Thị L cùng các con phải trả lại quyền quản lý di sản thừa kế là thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; Diện tích 635,3m²; Vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh).
  • Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn V về việc công nhận thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; Diện tích 635,3m²; Vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) tài sản trên đất thuộc về gia đình ông Trần Văn V.
  • Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn V về việc tuyên bố thời hiệu chia thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ Trần Văn K để lại là thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; Diện tích 635,3m²; Vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) là hết thời hiệu chia thừa kế.
  • Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn V về việc buộc bà Lê Thị L cùng các con phải bồi thường số tiền thiệt hại do hủy hoại tài sản là 324.880.000 đồng (ba trăm hai mươi tư triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
  • Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Trần Văn V đối với yêu cầu phần diện tích đất mua thêm thuộc về gia đình ông Trần Văn B.
  • Đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bà Lê Thị L về việc yêu cầu công nhận thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; Diện tích 635,3m²; vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) gồm diện tích đất mua thêm; Tài sản trên đất thuộc về gia đình ông Trần Văn G2.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29/8/2025, nguyên đơn là ông Trần Văn V kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến của mình. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không trình bày, tranh luận gì đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DSST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh; Các đương sự phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Văn V nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ tranh chấp “Yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế và yêu cầu bồi thường thiệu hại” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Bắc Ninh là đúng theo quy định tại Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Cụ Trần Văn K là ông nội của ông Trần Văn V, cụ K có sáu người con gồm: Trần Văn C5 (liệt sĩ), Trần Văn R, Trần Thị C3, Trần Văn G2, Trần Văn B và Trần Văn C2 (đều đã chết, riêng ông C2 chết tháng 12/2024). Khi còn sống, cụ K có thửa đất ở thôn C, xã Đ (nay là thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23, diện tích 635,3m² địa chỉ tại thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh). Theo lời trình bày của ông V thì sau khi cụ chết, các con từng sinh sống tại đây, đến năm 1978 không còn ai ở nên gia đình đã họp và thống nhất cử ông Trần Văn B (là bố ông V) về quản lý, sử dụng thửa đất.

Từ năm 1980, ông B trực tiếp quản lý, sử dụng đất; xây dựng nhà cửa, công trình phụ, trồng cây, chăn nuôi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước cho đến khi qua đời năm 2017, không phát sinh tranh chấp. Sau đó, gia đình ông V tiếp tục quản lý, đến năm 2019 giao cho vợ chồng anh S1 trông nom.

Ông V trình bày ngày 05/7/2020, bà Lê Thị L (vợ ông Trần Văn G2) cùng các con đã phá khóa, xâm nhập nhà đất, chiếm giữ và hủy hoại nhiều tài sản trên thửa đất trên. Hiện nay bà L và các con vẫn đang chiếm giữ trái phép thửa đất số 123 và tài sản gắn liền với đất của gia đình ông; tổng thiệt hại tài sản bị hủy hoại là 324.880.000 đồng. Vì vậy ông V khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • Yêu cầu bà Lê Thị L và các con bà L trả lại quyền quản lý di sản các cụ để lại là thửa đất số: 123, tờ bản đồ số 23, diện tích 635,3m², địa chỉ thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
  • Yêu cầu tuyên bố thời hiệu chia thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ Trần Văn K để lại là thửa đất số 123; tờ bản đồ số 23; Diện tích 635,3m²; Vị trí thửa đất tại thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) là hết thời hiệu chia thừa kế.
  • Yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất mua thêm thuộc về gia đình ông Trần Văn B.
  • Yêu cầu bà Lê Thị L và các con bà L bồi thường thiệt hại cho gia đình ông những gì mà bà L cùng con bà L gây nên cụ thể; Buộc bà L và các con bồi thường tổng số tiền thiệt hại là 324.880.000₫ (Ba trăm hai mươi bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông V xác định đối với phần diện tích đất mà ông B mua thêm, không có căn cứ, giấy tờ gì, hiện nay đã được nhập thành một thửa, ông xác định phần diện tích đất mua thêm ông không đề nghị gì mà xác định nằm trong tổng diện tích đất 635,3m² di sản do cụ K để lại.

Phía bị đơn là bà Lê Thị L, anh Trần Văn Q không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lê Thị L có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án: Khẳng định quyền sử dụng đất thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23 ở thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) thuộc về vợ chồng bà là hợp pháp; Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn nộp đơn xin rút đơn phản tố và đề nghị Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bà Lê Thị L.

Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn.

Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, nguyên đơn là ông Trần Văn V kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của ông V thì thấy:

Thứ nhất, về nguồn gốc thửa đất số 123, tờ bản đồ số 23, diện tích 635,3m² tại địa chỉ thôn C, xã Đ: Tại lời trình bày của những người cháu của cụ Trần Văn K cũng như chính lời trình bày của ông V, bà L đều xác nhận nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là của cụ Trần Văn K. Cụ Trần Văn K đã chết khoảng năm 1959, vợ của cụ K đã chết trước đó từ lâu. Cụ K sinh được 06 người con là Trần Văn C5 (liệt sỹ), Trần Văn D2, Trần Thị C3, Trần Văn G2, Trần Văn B, Trần Văn C2 hiện nay đều đã chết. Khi chết cụ K không để lại di chúc cũng như không phân chia định đoạt thửa đất số 123 cho ai. Tại thời điểm cụ K chết, các con của cụ vẫn sinh sống tại thửa đất, khi lớn thì lập gia đình ra ở riêng, còn bà C3, ông G2, ông B, ông C2 tiếp tục sinh sống trên thửa đất, đến năm sau 1970 thì bắt đầu chuyển về khu Đ, thuộc thôn C lập ấp, sinh sống và thửa đất trên bỏ không từ năm 1970 đến khoảng năm 1982 thì vợ chồng ông Trần Văn G2 và bà Lê Thị L đến ở, xây nhà và công trình trên đất sau đó lại chuyển đến thửa đất khác sinh sống, từ năm 1983 thì gia đình vợ chồng ông B chuyển đến sinh sống. Căn cứ vào lời trình bày của đại diện UBND xã Đ cũng như lời trình bày của trưởng thôn, trưởng ban mặt trận làng xác nhận thửa đất số 123 nguồn gốc là của cụ K tuy nhiên gia đình chưa kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khoảng năm 1983 gia đình ông B có sinh sống trên thửa đất được một thời gian thì chuyển về sinh sống ở Đ thuộc thôn C, xã Đ, và thửa đất số 123 bỏ không.

Ông V cho rằng năm 1982 gia đình ông đã xây dựng các công trình trên đất cũng như thực hiện việc đóng thuế đất với nhà nước, gia đình ông đã quản lý sử dụng và duy trì thửa đất trên từ năm 1982 đến nay mà không ai có ý kiến gì tuy nhiên ông không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Ngoài ra tại lời trình bày của ông Đỗ Văn D1 - cán bộ phụ trách thuế xã Đ (nay là xã H) cũng đã xác nhận do không có biên lai hoặc phiếu thu thuế nên không xác định được hộ gia đình ông V có phải là người đóng thuế hay không, tại sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà đất ở nông thôn thì hộ gia đình ông V không thuộc trong thôn nào.

Như vậy có thể thấy nguồn gốc của thửa đất đang tranh chấp là tài sản chung của hộ gia đình cụ Trần Văn K, khi chết cụ K không để lại di chúc, không chỉ định ai là người quản lý, trông nom. Căn cứ vào Điều 616 Bộ luật dân sự thì khi cụ K chết không để lại di chúc nên người quản lý di sản phải do những người thừa kế thỏa thuận cử ra. Tuy nhiên những người thuộc hàng thừa kế thế vị của cụ K gồm các con của cụ Trần Văn C2 và con của cụ Trần Thị C3 không đồng ý công nhận quyền quản lý di sản thừa kế theo yêu cầu của ông V, như vậy những người thừa kế không thỏa thuận được việc cử người quản lý toàn bộ di sản thừa kế.

Ngoài ra ông V cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh nào về việc gia đình ông liên tục quản lý sử dụng di sản thừa kế từ những năm 1982 cho đến nay. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản của gia đình ông V đối với thửa đất trên là có căn cứ.

Thứ hai, về việc đề nghị Tòa án tuyên về thời hiệu chia thừa kế đối với phần diện tích đất mà cụ Trần Văn K khi chết để lại hết thời hiệu chia thừa kế: Xét thấy thửa đất đang tranh chấp là tài sản chung của hộ cụ Trần Văn K. Năm 2008 anh Trần Văn Q con ông Trần Văn G2 đã có đơn khởi kiện gửi UBND xã Đ về việc tranh chấp quyền sử dụng thửa đất trên và đã được UBND xã Đ hòa giải. Năm 2019 anh Q tiếp tục làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa về việc tranh chấp thửa đất trên nhưng sau đó anh Q đã rút đơn khởi kiện. Như vậy thửa đất trên các bên đã có tranh chấp về quyền sử hữu từ những năm 2008 nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào giải quyết, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 623 BLDS, khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990, Án lệ số 26/2018/AL để xác định yêu cầu của ông V về việc tuyên thời hiệu chia thừa kế đối với phần diện tích của cụ K để lại là không có căn cứ chấp nhận là phù hợp.

Thứ ba, về việc ông V yêu cầu bà Lê Thị L phải bồi thường số tiền 324.880.000₫ do hủy hoại tài sản: Tại bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 68/KLĐT ngày 15/7/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H (nay là Công an xã H); Bản kết luận kiểm sát số 02/KSĐT ngày 16/7/2021 của VKSND huyện Hiệp Hòa (nay là VKSND xã Hiệp Hòa) xác định: Nguồn gốc và quyền sử dụng thửa đất trên có một phần diện tích là của cụ Trần Văn K để lại. Sau đó, vợ chồng bà Lê Thị L đến ở, mua thêm đất và xây dựng một số công trình trên đất sau đó chuyển đến thửa đất khác sinh sống và cho vợ chồng ông Trần Văn B ở nhờ từ năm 1983: Trước khi chết, ông B làm giấy giao lại thửa đất này cho con trai là ông Trần Văn V quản lý và sử dụng. Gia đình ông V không sống trên thửa đất và ngôi nhà trên thửa đất này, mà chỉ thường xuyên qua lại dọn dẹp, trông coi. Vì tranh chấp đất nên ngày 05/7/2020, bà L chuyển đến ở, dọn dẹp, chặt một số cây cối trên đất. Bản chất vụ việc nêu trên là tranh chấp quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và tài sản trên đất trong họ hàng nội tộc và không phải là chỗ ở thường xuyên của gia đình ông V. Vì vậy không đủ cơ sở để khởi tố bà Lê Thị L và các đối tượng liên quan về hành vi “Xâm phạm chỗ ở của người khác” và “Hủy hoại tài sản”. Do đó ngày 15/7/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự.

Ngoài ra sau khi cụ K qua đời, các con của cụ vẫn tiếp tục sinh sống trên thửa đất này. Đến khoảng năm 1979, ông G2 và bà L về ở; khoảng năm 1983, ông B mới chuyển về sinh sống một thời gian rồi lại dọn về khu vực Đ, thôn C, xã Đ. Kể từ đó, thửa đất bị bỏ không, chỉ thỉnh thoảng ông B quay lại quét dọn. Đến năm 2019, vợ chồng ông V giao thửa đất cho vợ chồng anh S1 quản lý, tuy nhiên họ cũng không thường xuyên sinh sống tại thửa đất. Vì vậy, không có căn cứ xác định các tài sản bị hư hỏng mà ông V cho rằng bà L cùng các con đã hủy hoại thuộc quyền sở hữu của ai và có nguồn gốc từ đâu. Do ông V không đưa ra được các căn cứ cho yêu cầu về bồi thường các tài sản trên nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông V là phù hợp.

Từ những nhận định và phân tích trên có thể thấy ông V là người kháng cáo nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa ông V không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, do đó, cần bác toàn bộ kháng cáo của ông V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DSST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[3]. Về án phí: Ông Trần Văn V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DSST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.
  2. Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn V phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0000456 ngày 29/8/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Bắc Ninh.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DSST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND khu vực 2 - Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 2 - Bắc Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Cổng thông tin Điện tử - TANDTC
  • - Lưu hồ sơ; HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/DS-PT ngày 05/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế và yêu cầu bồi thường thiệt hại

  • Số bản án: 02/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế và yêu cầu bồi thường thiệt hại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận quyền quản lý di sản thừa kế và yêu cầu bồi thường thiệu hại giữa Nguyên đơn: Ông Trần Văn Vinh, sinh năm 1973; Bị đơn: Bà Lê Thị Lan, sinh năm 1944
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger