Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 02/2026/DS-PT

Ngày: 20-01-2026

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang; Ông Đoàn Hằng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2025/TLPT - DS ngày 30 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Lai Châu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2025/QĐ-PT ngày 25/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1958; Địa chỉ: Bản C, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu (nay là bản C, xã P, tỉnh Lai Châu), có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1984 - Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường Đ, tỉnh Lai Châu - Theo văn bản ủy quyền ngày 05/01/2026, có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Lê Lan A, sinh năm 1975; Địa chỉ: Bản C, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu (nay là bản C, xã P, tỉnh Lai Châu), có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Đỗ Danh C, sinh năm 1947; Địa chỉ: Bản C, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu (nay là bản C, xã P, tỉnh Lai Châu), vắng mặt.

      Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Danh C: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1984 - Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường Đ, tỉnh Lai Châu - Theo văn bản ủy quyền ngày 05/01/2026, có mặt.

    • 3.2. Ông Đỗ Kim N1, sinh năm 1954; Địa chỉ: Tổ G, phường M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
    • 3.3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Địa chỉ: Bản C, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, có mặt.
    • 3.4. Ông Trần Văn N2 (tên gọi khác: Trần Giang N2), sinh năm 1972; Địa chỉ: Đồn Biên phòng cửa khẩu M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
    • 3.5. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Bản P, xã P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
    • 3.6. Bà Lê Thị Thanh P, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu, có mặt.
  4. Người làm chứng:
    • 4.1. Ông Giàng Văn C1, sinh năm 1954; Địa chỉ: Bản P1, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, có mặt.
    • 4.2. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Bản C, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, có mặt.
    • 4.3. Bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ dân phố P, xã P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
  5. Người được Tòa án triệu tập: Đại diện Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu: Ông Khổng Văn T1, sinh năm 1979 - Chức vụ: Phó Chủ tịch, vắng mặt.
  6. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong đơn khởi kiện ngày 17 tháng 11 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Gia đình bà Nguyễn Thị S có 01 thửa đất tại bản C, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu với diện tích khoảng 400m2, có tứ cận: Phía Đông Bắc giáp đất bà S, phía Tây Nam giáp siêu thị Đ1, phía Đông Nam giáp Quốc lộ D, phía Tây Bắc giáp đường P - H. Nguồn gốc đất do vợ chồng bà khai hoang từ năm 1985 đến 1986, mục đích sử dụng là đất nông nghiệp. Từ năm 1986 đến năm 1996 gia đình bà trồng cây ăn quả là chủ yếu, từ năm 1996 đến cuối năm 1998 gia đình bà cho Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh L mượn (trao đổi bằng miệng) để xây Trạm Cảnh sát giao thông P. Khi Trạm Cảnh sát giao thông chuyển đi có để lại khung nhà cho gia đình ông Bùi Văn T2 và bà Nguyễn Thị N4 ở đó một thời gian, sau đó gia đình ông T2 bán lại khung nhà cho gia đình bà Lê Lan A với giá 4.000.000 đồng. Gia đình bà Lê Lan A ở trên mảnh đất đó, đến năm 2014 gia đình bà Lê Lan A xây kênh rãnh nước dài 05m, rộng 40cm. Tường nhà bà A sát tường nhà bà S, máng nước của nhà bà A bị hỏng nên khi trời mưa thấm vào tường nhà bà S. Bà S đã yêu cầu bà A khắc phục nhưng bà A không đồng ý và có ý thách thức.

Vì vậy, bà S khởi kiện yêu cầu bà A trả lại diện tích đất khoảng 400m2 và yêu cầu bồi thường thiệt hại do máng nước của gia đình bà A làm mốc, hỏng tường nhà của gia đình nhà bà S. Ngày 18/9/2025, bà S làm đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại trên, giữ nguyên yêu cầu bà A trả lại diện tích đất là 286,1m2 theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/10/2024.

Bị đơn bà Lê Lan A trình bày:

Năm 1998, gia đình bà có mua 01 căn nhà gỗ và đất của ông Bùi Văn T2, chiều dài 17m, chiều rộng 18m với tổng diện tích là 306m2 với giá 4.500.000 đồng, có viết giấy chuyển nhượng, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P do Chủ tịch là ông Sìn Văn T3 ký xác nhận, có nhiều người làm chứng và vợ chồng bà S dẫn chỉ mốc giới giáp nhà bà S. Gia đình bà ở trên căn nhà đó từ năm 1998 đến năm 2009, do căn nhà gỗ mối mọt nên bà đã dỡ bỏ đi một phần nhà gỗ (phía sau) và xây căn nhà cấp 4. Đến năm 2010 gia đình bà tiếp tục dỡ tiếp phần nhà hư hỏng còn lại (phía trước) để xây 01 phòng khách. Cả 02 lần xây dựng nhà ở, gia đình bà S biết nhưng không có ý kiến, tranh chấp gì, bà S chỉ bảo bà để lại ít đất làm rãnh thoát nước. Quá trình sử dụng, năm 2006 gia đình bà có chuyển nhượng khoảng 100m2 đất cho vợ chồng em gái là bà Lê Thị Thanh P và ông Nguyễn Văn T. Năm 2011, đội tư vấn đo đạc của tỉnh Lai Châu về đo đạc đất đai, nhà ở để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn xã P. Theo kết quả đo đạc thì nhà ở gắn liền với đất mà bà đang sinh sống đã được quy chủ cho gia đình bà sử dụng có số thửa 272, tờ bản đồ số 129, diện tích 186,1m2, có tứ cận: Phía Đông Nam giáp Quốc lộ D, phía Tây Nam giáp nhà bà Nguyễn Thị L, phía Tây Bắc giáp với đường P - H, phía Đông Bắc giáp nhà bà S. Bà Lan A đã ở ổn định từ năm 1998, không có tranh chấp, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất từ năm 2002 đến năm 2004. Sau đó, do chính sách Nhà nước ngừng thu và miễn thu thuế đất đối với nhân dân nên bà không nộp nữa.

Diện tích đất tranh chấp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do bà S đang có tranh chấp với gia đình bà. Bà S khởi kiện đòi lại diện tích đất mà gia đình bà đang sử dụng là do gia đình bà S xây dựng sau, để vữa xi măng lấp máng nước của bà dẫn đến bị ngấm tường của gia đình bà S. Do vậy, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà S yêu cầu bà trả lại diện tích đất 286,1m2 mà gia đình bà đang sử dụng ổn định. Bà S rút yêu cầu về bồi thường thiệt hại bà hoàn toàn nhất trí.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 36, 73, 79 Luật đất đai 1993; Điều 50 Luật đất đai 2003; Các Điều 95, 99, 100, 101, 107, 108, 166, 170, 202, 203 Luật đất đai 2013; Các Điều 137, 235, 236 Luật đất đai 2024; Các Điều 21, 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; khoản 2, khoản 3 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu bị đơn bà Lê Lan A trả lại diện tích 286,1m2 đất tại bản C, xã P, tỉnh Lai Châu có vị trí, ranh giới đất như sau:

  • - Phía Đông Bắc có chiều dài 15,33m giáp đất bà Nguyễn Thị S.
  • - Phía Tây Nam có chiều dài 17,67m giáp siêu thị điện máy ST.
  • - Phía Tây Bắc có chiều dài 15,82m giáp đường P - H.
  • - Phía Đông Nam có chiều dài 19,14m giáp Quốc lộ A.

(Theo sơ đồ khu đất tranh chấp kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/10/2024).

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/01/2026).

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Lai Châu;

- TAND khu vực 3 - Lai Châu;

- Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 02/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger