|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2026/HNGĐ-PT Ngày 13-01-2026
V/v Tranh chấp Ly hôn, con chung, chia tài sản chung giữa anh N và chị T1.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng
Các Thẩm phán: Ông Đinh Huy Lưỡng
Ông Nguyễn Đức Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2025/TLPT-HNGĐ ngày 03-11-2025 về Tranh chấp Ly hôn, con chung, chia tài sản chung.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 327/2025/HNGĐ-ST ngày 30-6-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc N, sinh ngày 10-7-1979; căn cước công dân số: 036079024980; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà H, phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số nhà H, phố B, phường N, tỉnh Ninh Bình);
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lại Đức T - Luật sư thuộc Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H (Chi nhánh tại Nam Định); Địa chỉ: Số A, H, phường N, tỉnh Ninh Bình;
- Bị đơn: Chị Đặng Thủy T1, sinh ngày 26-4-1982; căn cước công dân số: 036182011754; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà H, phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số nhà H, phố B, phường N, tỉnh Ninh Bình). Nơi đăng ký tạm trú: Tổ dân phố số A, xã N, tỉnh Ninh Bình;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Quốc M và bà Nguyễn Thị Y - Luật sư thuộc Công ty L1 – Đoàn luật sư thành phố H;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị P, sinh ngày 04-12-1980; căn cước công dân số: 036180001028; Nơi cư trú: Phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường V, tỉnh Ninh Bình).
- Người kháng cáo: Chị Đặng Thủy T1 là bị đơn trong vụ án.
Tại phiên toà phúc thẩm: Anh Phạm Ngọc N, chị Đặng Thủy T1, ông T, ông M, bà Y có mặt. Chị Vũ Thị P vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 05-12-2024, lời khai quá trình giải quyết nguyên đơn anh Phạm Ngọc N trình bày:
Về hôn nhân: Anh Phạm Ngọc N và chị Đặng Thủy T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 01-3-2008. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách của hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, có trách nhiệm gì với nhau. Nay anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đặng Thủy T1.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Bảo N1, sinh ngày 26-8-2008 (giới tính: Nữ) và Phạm Ngọc Quốc B sinh ngày 14-12-2014 (giới tính: Nam). Khi ly hôn, anh N đề nghị Tòa án giao mỗi người trực tiếp nuôi một con và theo nguyện vọng của các con. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Vợ chồng có các tài sản chung như sau: Quyền sử dụng thửa đất số 641 tờ bản đồ số 6 tại địa chỉ: Số H phố B, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định đã xác nhận trang 4 thay đổi thành thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ: Số H, phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định có nguồn gốc của bố mẹ anh N tặng cho vợ chồng và vợ chồng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH206124 ngày 14-4-2017, do Sở T3 cấp. Công trình xây dựng trên đất là nhà bê tông cốt thép 4 tầng, nguồn gốc tiền xây dựng nhà do bố mẹ anh N cho một phần, vợ chồng tích cóp và vay mượn thêm. Tổng giá trị nhà đất hiện nay khoảng 5.000.000.000 đồng. Một xe ô-tô Hyundai Tucson, biển kiểm soát: 18A-163.83 được đăng ký tên Phạm Ngọc N trị giá hiện nay khoảng 580.000.000 đồng. Vợ chồng mua năm 2019 giá tại thời điểm mua gần 900.000.000 đồng. Một xe máy Honda SH, biển kiểm soát: 18B1-876.72 được đăng ký tên Phạm Ngọc N trị giá hiện nay khoảng 50.000.000 đồng.
Về vay nợ chung: Năm 2019, vợ chồng anh chị đã ký hợp đồng tín dụng số 3202-LVA-2019 ngày 28-8-2019 và Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 641 tờ bản đồ số 6 diện tích là 47,5m² phường P, thành phố N nay là thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 diện tích 47,5m², địa chỉ H, đường B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định tại Ngân hàng N2 chi nhánh T4 để đảm bảo cho khoản vay. Số tiền vợ chồng vay dùng vào mục đích trả tiền nợ xây nhà, tiền mua xe ô tô. Sau đó, đến hạn vợ chồng phải đáo hạn nợ Ngân hàng và ký Hợp đồng tín dụng số 3202-LVA-202302005 ngày 10-11-2023 số tiền là 980.000.000 đồng tính đến ngày 10-11-2023 từ hợp đồng tín dụng trước chuyển sang. Nhiều năm nay, một mình anh N phải thanh toán nợ lãi và đến ngày 12-3-2025 số tiền nợ gốc còn 900.000.000 đồng và lãi trong hạn và lãi quá hạn phát sinh là: 20.811.000 đồng, tổng số tiền gốc và lãi là: 920.811.000 đồng. Do chị Đặng Thủy T1 không có thiện chí, không đến Ngân hàng làm việc, để giải quyết khoản nợ này nên Ngân hàng đã chuyển khoản nợ này thành nợ xấu. Anh N đã phải vay mượn tiền của chị Vũ Thị P, sinh năm 1980, nơi cư trú: phường N, thành phố N số tiền 921.000.000 đồng chuyển vào tài khoản tên anh là Phạm Ngọc N số tài khoản 3202915009483 A để Ngân hàng N2 thu nợ từ tài khoản này. Anh N và chị Vũ Thị P đã lập hợp đồng vay tiền tại Văn phòng công chứng, hợp đồng vay không xác định thời hạn và không tính lãi suất. Sau đó, Ngân hàng N2 giải chấp tài sản đảm bảo và anh N đã làm thủ tục xóa chấp theo quy định của pháp luật. Nay anh N xác định vợ chồng có khoản nợ chung của chị Vũ Thị P là 920.811.000 đồng dùng vào việc trả nợ toàn bộ số tiền gốc và lãi mà vợ chồng vay của Ngân hàng N2. Số tiền 189.000 đồng chị P chuyển dư vào tài khoản của anh N nên anh N đã trả cho chị P. Quan điểm của anh N đề nghị Tòa án phân chia tài sản và công nợ như sau:
Về tài sản chung: Do quyền sử dụng thửa đất số 641 tờ bản đồ số 6, địa chỉ tại số H phố B, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định nay là thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 diện tích 47,5m², địa chỉ số H, đường B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH206124 do Sở Tài nguyên và Môitrường tỉnh T3 cấp vào ngày 14-4-2017 có nguồn gốc của bố mẹ anh N cho nên anh N có nguyện vọng sử dụng quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất là nhà bê tông 4 tầng; sở hữu 01 xe ô-tô Hyundai Tucson, biển số 18A-163.83 được đăng ký tên Phạm Ngọc N, còn chị Đặng Thủy T1 sở hữu 01 xe máy Honda SH, biển số 18B1-876.72 được đăng ký tên Phạm Ngọc N. Mặc dù, công sức của anh N trong khối tài sản chung nhiều hơn nhưng anh N giá trị tài sản chung chia mỗi người 1/2. Ngoài ra, vợ chồng còn có đồ dùng sinh hoạt trong gia đình hai bên tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ chung: Anh N có quan điểm do anh nhận giá trị tài sản bằng hiện vật nhiều hơn nên anh có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ chung của vợ chồng là số tiền 920.811.000 đồng cho chị Vũ Thị P. Sau khi trừ số nợ, anh N có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho chị T1.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Đặng Thủy T1 theo quy định của pháp luật nhưng chị T1 không đến Toà án làm việc và cũng không trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.
* Tại bảnkhai và trong quá trìnhtham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị Phương trình B1: Chị P là bạn anh Phạm Ngọc N. Chị P biết vợ chồng anh N đang mâu thuẫn và còn vướng mắc khoản nợ Ngân hàng không có khả năng thanh toán nên ngày 12-3-2025 chị P đã cho anh N vay số tiền 921.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi suất. Chị P đã chuyển số tiền 921.000.000 đồng vào tài khoản 3202915009483 Ngân hàng N2 tên Phạm Ngọc N để anh N thanh toán nợ Ngân hàng, đồng thời, chị P và anh N ra Văn phòng C lập hợp đồng vay tiền theo quy định của pháp luật. Số tiền này là tiền riêng cá nhân chị P, chồng chị P là anh Trần Xuân M1 đã chết từ năm 2016, đến nay chị P chưa kết hôn với ai. Nay anh N và chị T1 ly hôn, chị P yêu cầu anh N và chị T1 cùng có trách nhiệm trả nợ cho chị.
* Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 04-3-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, đại diện chính quyền địa phương cung cấp: anh N và chị T1 có đăng ký kết hôn và chung sống tại địa chỉ số H, B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vợ chồng có hai con chung. Quá trình chung sống vợ chồng anh N và chị T1 có xảy ra mâu thuẫn nhưng không làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự khu dân cư. Nay chị T1 thường xuyên vắng nhà. Về yêu cầu khởi kiện của anh N đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết, đảm bảo quyền lợi cho hai bên.
* Tại biên bản lấy lời khai của cháu Phạm Bảo N1, sinh ngày 26-8-2008 (giới tính: Nữ) có nguyện vọng ở với mẹ và Phạm Ngọc Quốc B sinh ngày 14-12-2014 (giới tính: Nam) có nguyện vọng được ở với cả bố và mẹ.
* Theo yêu cầu xem xét, thẩmvà định giá của nguyên đơn, ngày 07-05-2025 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ: Số H phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ như sau: Đối với thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ: Số H phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH206124 do Sở T3 cấp vào ngày 14-4-2017 và xác nhận trang 4 ngày 14-3-2025 có diện tích là 47,5 m². Đất không có tranh chấp với các hộ liền kề, công trình xây dựng hết đất. Mặt chếch phía Bắc giáp đường B; mặt chếch Nam giáp thửa 647; mặt chếch Đông thửa 642 và thửa 643; mặt chếch Tây giáp ngõ đi số H B, phường T, thành phố N.
Đối với công trình xây dựng trên đất là nhà bê tông cốt thép chịu lực xây 4 tầng, tầng 1,2,3 xây dựng trên toàn bộ diện tích của thửa đất, tầng 4 xây dựng 23,8m²; tường 220; trần, tường sơn; nền nhà tầng 1,3,4 lát gạch men, tầng 2 ốp gỗ. Cửa đi tầng 1 có 02 lớp cửa, lớp 1 là cửa gỗ lim, lớp 2 là cửa sắt xếp. Công trình phụ liền kết cấu với căn nhà, ốp lát gạch ceramic.
Đối với 01 xe ô-tô Hyundai Tucson, biển kiểm soát: 18A-163.83: Máy xăng, đời 2019. Xe màu đỏ, 5 chỗ. Về nội thất còn tốt, có hao mòn theo thời gian sử dụng. Về ngoại thất: Có xước sát trong quá trình sử dụng nhưng không đáng kể. Máy móc vận hành tốt.
Đối với 01 xe máy Honda SH, biển kiểm soát: 18B1-876.72: Xe đăng ký lần đầu năm 2017. Xe màu trắng, máy sử dụng hoạt động bình thường, có xước sơn trong quá trình sử dụng.
Kết quả định giá tài sản như sau: Quyền sử dụng thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ: Số H phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH206124 do Sở T3 cấp vào ngày 14-4-2017, xác nhận trang 4 ngày 14-3-2025 giá trị là 3.990.000.000 đồng và công trình xây dựng trên đất giá trị là 929.284.000 đồng. Tổng trị giá nhà đất là 4.919.284.000 đồng (Bốn tỷ chín trăm mười chín triệu hai trăm tám mươi tư nghìn đồng). Một xe ô-tô Hyundai Tucson, biển kiểm soát: 18A-163.83 được đăng ký tên Phạm Ngọc N trị giá 580.000.000 đồng (Năm trăm tám mươi triệu đồng). Một xe máy Honda SH, biển kiểm soát: 18B1-876.72 được đăng ký tên Phạm Ngọc N trị giá 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng). Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản chị T1 không có mặt, Tòa án đã niêm yết thôngbáo về việc đã tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nhưng chị T1 không có ý kiến gì về giá của tài sản do Hội đồng định giá định giá.
* Tại bản án số 327/2025/HNGĐ-ST ngày 30-6-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) quyết định. Căn cứ vào Điều 33, Điều 34, Điều 37, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gianăm 2014; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban ThườngQuốc hộiđịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Phạm Ngọc N và chị Đặng Thủy T1.
Về con chung: Giao con chung là Phạm Ngọc Quốc B (giới tính: Nam), sinh ngày 14-12-2014 cho anh Phạm Ngọc N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao con chung là Phạm Bảo N1 (giới tính: Nữ), sinh ngày 26-8-2008 cho chị Đặng Thủy T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này. Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ: Chia cho anh Phạm Ngọc N quyền sử dụng thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 diện tích 47,5 m² tại địa chỉ: Số H phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; quyền sở hữu 01 xe ô-tô Hyundai Tucson, biển kiểm soát: 18A-163.83.
Chia cho chị Đặng T2 Thương quyền sở hữu 01 xe máy Honda SH, biển kiểm soát: 18B1-876.72.
Buộc anh Phạm Ngọc N có trách nhiệm trả cho chị Vũ Thị P số tiền là 920.811.000 đồng (Chín trăm hai mươi triệu tám trăm mười một nghìn đồng).
Buộc anh Phạm Ngọc N phải có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho chị Đặng T2 T1 số tiền 2.266.737.000 đồng (Hai tỷ hai trăm sáu mươi sáu triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Buộc chị Đặng Thủy T1 phải giao cho anh Phạm Ngọc N thửa đất số 641 tờ bản đồ số 26 diện tích 47,5 m² tại địa chỉ: Số H, phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định và tài sản gắn liền với đất; 01 xe ô-tô Hyundai Tucson, biển kiểm soát: 18A-163.83.
Buộc anh Phạm Ngọc N phải giao cho chị Đặng Thủy T1 01 xe máy Honda SH, biển kiểm soát: 18B1-876.72.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, anh Phạm Ngọc N được chia quyền sử dụng đất có quyền đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Đặng Thủy T1 được chia 01 xe máy Honda SH, biển kiểm soát: 18B1-876.72 có quyền đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin cấp đăng ký xe máy theo quyết định của bản án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và biện pháp thi hành án của các đương sự.
* Ngày 23-9-2025 chị Đặng Thủy T1 là bị đơn trong vụ án có đơn kháng cáo toàn bộ bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 327/2025/HNGĐ-ST, ngày 30-6-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định. Lý do của việc kháng cáo: Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án nêu trên, chị T1 không được Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, đặc biệt là không được biết hay nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như Bản án sơ thẩm. Do đó, chị T1 không biết, không được tham gia để trình bày ý kiến, không được tham gia làm việc cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo đúng quy định pháp luật. Việc Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tuyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 327/2025/HNGĐ-ST, ngày 30-6-2025 đã vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về thủ tục tố tụng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của chị T1. Tháng 2 năm 2024, anh N có bảo chị vay của bà Nguyễn Thị S (là mẹ đẻ chị) số tiền 449.000.000 đồng để phục vụ công việc của anh N. Vì thương con nên mẹ chị đã đồng ý cho vợ chồng vay mà không tính lãi. Đến nay, vợ chồng chị vẫn chưa trả lại khoản tiền này cho mẹ chị. Do đó, chị T1 đề nghị Tòa án phải xác định khoản vay này là nợ chung của vợ chồng. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét huỷ toàn bộ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 327/2025/HNGĐ-ST ngày 30-6-2025 của của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình).
* Tại phiên toà phúc thẩm: Chị Vũ Thị P đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Nguyên đơn anh Phạm Ngọc N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, về việc ly hôn, con chung, chia tài sản chung và công nợ. Đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, anh N không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T1. Chị Đặng Thủy T1 xin rút một phần kháng cáo về quan hệ hôn nhân, phân chia tài sản chung và công nợ chung, vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo về con chung, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
Về nội dung của vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm chị Đặng Thủy T1 xin rút một phần kháng cáo về quan hệ hôn nhân, phân chia tài sản chung và công nợ chung. Xét thấy việc chị T1 xin rút một phần kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không trái pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 289, Điều 295 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo về phần quan hệ hôn nhân, chia tài sản chung và công nợ chung của chị T1.
Về con chung hiện nay anh Phạm Ngọc N và chị Đặng Thủy T1 có hai con chung cháu Phạm Bảo N1, sinh ngày 26-8-2008 và cháu Phạm Ngọc Quốc B, sinh ngày 14-12-2014, cả hai con đang ở cùng anh N. Khi ly hôn anh N và chị T1 đều có nguyện vọng xin được chăm sóc và nuôi dưỡng con chung không yêu cầu người kia phải cấp dưỡng nuôi con, đến nay điều kiện nuôi dưỡng con của hai bên là như nhau. Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu Phạm Ngọc Quốc B cho anh N nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Bảo N1 cho chị T1 nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị Đặng Thủy T1, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên án sơ thẩm về phần con chung. Án phí giải quyết theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị P đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt chị P không ảnh hưởng gì đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị P. Anh Phạm Ngọc N có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn với chị Đặng Thủy T1. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Do vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn”.
[2] Xét đơn kháng cáo của chị Đặng Thủy T1 quá hạn nhưng ngày 20 tháng 10 năm 2025 Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định số 01/2015/QĐ-PT chấp nhận việc kháng cáo quá hạn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết.
[3] Xét kháng cáo của chị Đặng Thủy T1 kháng cáo toàn bộ bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 327/2025/HNGĐ-ST, ngày 30-6-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) thấy rằng: Anh Phạm Ngọc N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung với chị Đặng Thủy T1. Xét thấy, bị đơn là chị Đặng Thủy T1 có nơi cư trú địa chỉ số nhà H, phố B, phường T, thành phố N (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình). Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm chị Đặng Thủy T1 xin rút một phần kháng cáo về quan hệ hôn nhân, phân chia tài sản chung và công nợ chung. Xét thấy việc chị T1 rút một phần kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin rút một phần kháng cáo của chị Đặng Thủy T1. Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ đối với quan hệ hôn nhân, phân chia tài sản chung và công nợ chung là phù hợp pháp luật.
[5] Về việc nuôi con chung: Căn cứ lời khai của anh Phạm Ngọc N và căn cứ vào bản sao Giấy sinh số 113 quyển số 1 năm 2008 và Bản sao Giấy sinh số 07 quyển số 1 năm 2015 xác định vợ chồng anh N và chị T1 có hai con chung là Phạm Bảo N1 (giới tính: Nữ), sinh ngày 26-8-2008 và Phạm Ngọc Quốc B, (giới tính: Nam), sinh ngày 14-12-2014. Xét nguyện vọng của anh N mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng một con chung và đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của các con; đồng thời xét nguyện vọng của cháu Phạm Bảo N1 và Phạm Ngọc Quốc B. Tại cấp sơ thẩm chị Đặng Thủy T1 không có quan điểm gì về con chung nay chị T1 kháng cáo đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con để vừa đảm bảo học tập, tâm lý và phát triển cho các con, vừa để các con không bị xáo trộn cuộc sống khi bố mẹ ly hôn. Xét thấy, hiện nay hai con chung của anh chị đang sống cùng anh N tại địa chỉ số nhà H, phố B, phường N, tỉnh Ninh Bình, chị T1 đang công tác tại Kho bạc ở xã N, cách nhà khoảng 10 km, chị đang thuê nhà ở tổ dân phố số A, xã N, tỉnh Ninh Bình để thuận tiện cho công việc hàng ngày của chị, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho anh N nuôi dưỡng, chăm sóc con trai cháu Phạm Ngọc Quốc B, giao cho chị T1 nuôi dưỡng con gái cháu Phạm Bảo N1. Để đảm bảo quyền lợi của các con sau khi bố mẹ ly hôn, ổn định tâm sinh lý của trẻ, cháu Quốc B lại là con trai đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý nên rất cần có sự dạy bảo, chăm sóc của người bố, cháu Bảo N1 lại là con gái, cháu có nguyện vọng xin được ở với chị T1, cháu cũng đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý, để các cháu phát triển bình thường và cũng là để bảo đảm sự ổn định về chỗ ở, sinh hoạt, học tập hàng ngày của các cháu là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật, cũng như quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho các cháu nên Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Phạm Ngọc Quốc B cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Phạm Bảo N1 cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của cả hai bên, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị T1 về việc nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Do mỗi người trực tiếp nuôi một con nên đề nghị của anh N hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[6] Qua những phân tích nêu trên đã cho thấy những kết luận trong bản án sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự được pháp luật bảo vệ không bị xâm hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm chị Đặng Thủy T1 cũng không đưa ra được các chứng cứ và lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của chị Đặng Thủy T1 về việc nuôi con chung không được chấp nhận cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của chị Đặng Thủy T1 không được chấp nhận nên chị T1 phải nộp 300.000đ theo quy định của pháp luật.
[8] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 4 Điều 147; Điều 148; khoản 2 Điều 289; Điều 295; khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 33, Điều 34, Điều 37, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gianăm 2014; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 5, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban ThườngQuốc hộiđịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của chị Đặng Thủy T1 về quan hệ hôn nhân, phân chia tài sản chung và công nợ chung.
2. Không chấp nhận kháng cáo của chị Đặng Thủy T1.
3. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 327/2025/HNGĐ-ST ngày 30-6-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Đặng Thủy T1 phải nộp 300.000 đồng nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002225 ngày 27-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị Đặng Thủy T1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Văn Tùng |
Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT ngày 13/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp ly hôn, con chung, chia tài sản chung
- Số bản án: 01/2026/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, con chung, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, con chung, chia tài sản chung giữa anh N và chị T1
