Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2026/HSST;

Ngày: 05/01/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Giang.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen; Bà Nguyễn Thị Xuân Hương.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 05/01/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/TLST-HS ngày 05/12/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXST-HS ngày 15/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Hồ Ngọc T, sinh năm 2005 tại Hà Tĩnh; Nơi ĐKTT: Số nhà A, ngõ G đường L, tổ E, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, nay là: phường T, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Đoàn Anh T1 và bà Hồ Thị T2; Chưa có chồng, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 2006; ĐKTổ dân phố T, phường N, thành phố Hải Phòng, đề nghị xét xử vắng mặt .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hoàng Bá T3, sinh năm 1986; ĐKTT: Thôn V, xã A, thành phố Hà Nội, vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Hồng N (Sinh năm 2006, HKTT: TDP T, phường N, TP Hải Phòng) và Đoàn Hồ Ngọc T cùng làm việc tại các quán Karaoke ở khu vực xã A, huyện H, TP Hà Nội và sống cùng phòng trọ ở số I, ngách A thôn N, xã A, huyện H, TP Hà Nội. Khoảng 05 giờ ngày 09/12/2024, T đi làm về phòng trọ, có mượn điện thoại của N để sử dụng. N đã cho T mượn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím dung lượng 256GB để sử dụng và bảo T khi nào dùng xong để trả ở đầu giường cho N, rồi N đi ngủ. T dùng một lúc rồi trả lại điện thoại cho N, để ở đầu giường nơi N đang ngủ rồi T đi vệ sinh, N lúc đó tỉnh giấc thì thấy T trả điện thoại ở đầu giường, N nghĩ rằng T trả lại điện thoại nên không nói gì, tiếp tục ngủ. Sau khi đi vệ sinh quay lại, do thiếu tiền tiêu xài, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của chị N. Lợi dụng chị N đang ngủ, T lén lút lấy điện thoại rồi bỏ đi. Khi đi T đã mở khóa mật khẩu điện thoại theo ngày tháng năm sinh của N đang xuất tài khoản Icloud ra khỏi máy, tháo sim điện thoại vứt đi. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T đem bán chiếc điện thoại trộm cắp cho anh Hoàng Bá T3 (Sinh năm: 1986, HKTT: thôn V, xã A, huyện H, TP Hà Nội) - chủ cửa hàng mua bán và sửa chữa điện thoại Bá Thịnh ở thôn V, xã A, huyện H, TP Hà Nội với giá 8.600.000 đồng (tám triệu sáu trăm nghìn đồng), số tiền bán điện thoại T đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 18/12/2024 chị N làm đơn tố giác gửi Công an xã A, huyện H, TP Hà Nội.

Ngày 23/4/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Yêu cầu định giá tài sản số B3608/YC-ĐTTH đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím dung lượng 256GB.

Tại Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím dung lượng 256GB có giá 17.167.000 đồng.

Đối với anh Hoàng Bá T3 - chủ cửa hàng điện thoại Bá Thịnh, anh T3 khai: Khi bán điện thoại cho anh T3 thì T có mật khẩu mở khóa màn hình điện thoại, trong điện thoại đã thoát mật khẩu Icloud, không có thẻ sim nên anh T3 tin tưởng là điện thoại của T. T3 khai: Khi bán điện thoại T không nói gì, chỉ đưa điện thoại cho chủ cửa hàng kiểm tra, sau khi kiểm tra có mật khẩu màn hình, đã thoát iCloud thì chủ cửa hàng đồng ý mua với giá 8.600.000 đồng (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng). Anh T3 có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với ngành nghề mua bán điện thoại. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Hoàng Bá T3.

Chị Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu T bồi thường số tiền 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).

* Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKS-KV8 ngày 04/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Đoàn Hồ Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại Bản trình bày ý kiến ngày 22/12/2025, bị hại hại là chị Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím dung lượng 256 GB theo kết luận của Hội đồng định giá là 17.167.000đ (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa.

* Tại phiên toà:

  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại giá trị chiếc điện thoại theo kết luận của Hội đồng định giá là 17.167.000₫ (Mười bảy triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng);Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
  • - Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất, sớm tái hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên, VKSND khu vực 8 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thu thập được, có đủ cơ sở kết luận:

Đoàn Hồ Ngọc T muốn có tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 09/12/2024 tại nhà trọ số 9, ngách A xóm B, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội, lợi dụng lúc chị Nguyễn Thị Hồng N đang ngủ, T đã có hành vi lén lút lấy của chị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím dung lượng 256 GB có giá trị 17.167.000₫ (Mười bảy triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự. VKSND khu vực 8 – Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật tại Bản cáo trạng là đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát đề xuất hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 17.167.000₫ (Mười bảy triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng);

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1, Điều 173; điểm i và s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Hồ Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Đoàn Hồ Ngọc T: 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2025.

- Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 17.167.000₫ (Mười bảy triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 858.000đ (tám trăm năm mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại; Người LQ;
  • - VKSND Khu vực 8 - HN;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Công an TP. Hà Nội;
  • - Thi hành án DS TP. Hà Nội;
  • - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hồng Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HSST ngày 05/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 01/2026/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger