Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST

Ngày 05-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Phạm Công Hạ

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 15/TB-TA ngày 29 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1982, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình N và bà Lê Thị T; có vợ là chị Đồng Thị T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số: 05/2015/HS-ST ngày 12-01-2015 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn S 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Nguyễn Văn S chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-7-2015, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, số tiền truy thu 160.000 đồng và lãi chậm thi hành án ngày 12-7-2024 (đã xóa án tích); Bản án số: 33/2017/HSST ngày 22-02-2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn S 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Nguyễn Văn S chấp hành xong hình phạt tù ngày 08-02-2018 và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 22-02-2017 (đã xóa án tích); tạm giam ngày 26-9-2025; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Đức H1; vắng mặt;
  2. Ông Trần Văn T2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02-9-2025, anh Nguyễn Văn H dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn xanh bạc, Biển kiểm soát 18K1-496.08 trên vỉa hè, sát cửa quán ăn của gia đình tại Tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng rồi đi vào bếp nấu ăn. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô đến quán của anh H để ăn trưa. Tại đây, S phát hiện thấy chiếc xe mô tô trên của anh H chìa khóa cắm ở ổ khóa, không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, S về nhà cất xe mô tô của mình rồi đi bộ quay lại quán của anh H. Khi đến trước cửa quán, quan sát thấy không có người trông coi, S dắt chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 18K1-496.08 xuống lòng đường rồi điều khiển đến Bệnh viện H2 - Hải Phòng cất giấu. Anh H phát hiện xe mô tô bị mất nên đã gọi điện cho anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 2005 (là em của anh H) ở cùng nhà đi tìm giúp. Trên đường đi tìm, khi đến khu vực chân cầu B thuộc địa phận phường T, thành phố Hải Phòng, anh H1 thấy một người nam giới (sau này biết là Nguyễn Văn S) điều khiển chiếc xe của anh H bị mất nên đã đi theo. Khi S vừa đi vào bãi gửi xe của bệnh viện để cất giấu thì anh H1 cùng một số người khác khống chế đưa S và tang vật đến trình báo Công an Phường L, thành phố Hải Phòng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 128/KL/HĐĐGTS ngày 12-9-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn xanh bạc, Biển kiểm soát 18K1-496.08 trị giá 11.525.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 2572/KL-KTHS ngày 11-9-2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh bạc, Biển kiểm soát 18K1-496.08 có số khung và số máy là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự.

Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 26-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng truy tố bị can Nguyễn Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Văn H vắng mặt nhưng tại Cơ quan điều tra, anh H khai: Tài sản của anh H bị trộm cắp là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh bạc, Biển kiểm soát 18K1-496.08. Anh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn S về tội Trộm cắp tài sản như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo bào chữa và tranh luận: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo dưới mức án khởi điểm đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và khung hình phạt: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 02-9-2025, Nguyễn Văn S đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh bạc, Biển kiểm soát 18K1-496.08 của anh Nguyễn Văn H tại tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng rồi điều khiển xe mô tô đến Bệnh viện H2 - Hải Phòng cất giấu thì bị anh Nguyễn Đức H1 (là em của bị hại) và ông Trần Văn T2 (là bảo vệ của Bệnh viện H2 - Hải Phòng) phát hiện, bắt giữ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 11.525.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an xã hội và tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6.1] Bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản mặc dù đã được xóa án tích như phần căn cước, lý lịch đã nêu nhưng cần đánh giá bị cáo là người có nhân thân không tốt.

[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly có thời hạn đối với bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[7.1] Đối với việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo dưới mức án khởi điểm đề nghị của Viện kiểm sát. Căn cứ các mục [3], [6.1], [7] thấy rằng, yêu cầu của người bào chữa chưa phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh bạc, Biển kiểm soát 18K1-496.08 và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ các điều 12, 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26-9-2025.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn S được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 1 - Hải Phòng;
  • - Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - THADS TP. Hải Phòng;
  • - Trại giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Hữu Hường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức Cảnh Phạm Công Hạ

Đinh Hữu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HS-ST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Sơn - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger