|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2026/DS-PT
Ngày: 02/01/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Liên Anh |
| Các Thẩm phán: | Ông Chu Tuấn Anh |
| Bà Đặng Mai Hoa | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Trịnh Phạm Phương Thảo, Thư ký Tòa án |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: | Bà Đặng Thị Sơn Cầm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. |
Ngày 02 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án dân sự thụ lý số 310/2025/TLPT-DS ngày 15/5/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 465/2025/QĐ-PT ngày 07/07/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 531 /2025/QĐPT-HPT ngày 24 /7/2025; Thông báo mở lại phiên toà số 926/2025/TB-TA ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V;
Địa chỉ trụ sở: Số H phố L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội - nay là phường Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, Chủ tịch Hội đồng quản trị V1.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Chức danh: Giám đốc trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý.
Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Vương Văn T, ông Nguyễn Anh H và ông Nguyễn Đức A. (Theo Văn bản ủy quyền số 6788/2025/UQ-KHCN ngày 01/09/2025)
Bị đơn: Bà Ngô Thị Thanh A1, sinh năm 1980;
Ông Phan Anh T1, sinh năm 1977;
Trú tại: Số A -A đường T, phường K, Thành phố Hà Nội.
Hiện bà Ngô Thị Thanh A1 đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 công an Thành phố H.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1.Anh Lâm Hoài A2, sinh năm 1978;
1
3.2. Chị Lê Minh L2, sinh năm 1980;
Chị L2 ủy quyền cho anh Lâm Hoài A2.
Cùng trú tại: Căn hộ D, Tòa P, Khu đô thị V, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội - Nay là phường V, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của chị Lê Minh L2 là anh Lâm Hoài A2.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Lâm Hoài A2, chị Lê Minh L2: Luật sư Nguyễn Thị Hằng N và Luật sư Đào Thị Bích N1 - Văn phòng L3, Đoàn luật sư Thành phố H.
3.3. Ông Nguyễn Sỹ H1, sinh năm 1970
3.4. Bà Vũ Thị Hồng L1, sinh năm 1975
Cùng trú tại: Số A L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng - nay là phường G, thành phố Hải Phòng.
Hiện trú tại: P, Tòa P, Khu đô thị V, phường V, Thành phố Hà Nội.
3.5. Công ty cổ phần V2 (Được đổi tên từ Công ty cổ phần P).
Trụ sở chính: Số D, phố M, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội - nay là phường V, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thu H2 - Tổng giám đốc.
Người được ủy quyền: Ông Vũ Thái N2.
Địa chỉ: Tòa nhà V, Đường C, Khu đô thị S, Phường P, Quận L, Thành phố Hà Nội - nay là phường P, Thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của Ngân hàng TMCP V là nguyên đơn, ông Lâm Hoài A2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
* Đại diện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trình bày:
Bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 vay của V1 - Chi nhánh H4, địa chỉ: Số D D, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội tổng số tiền là 3.165.386.230 đồng theo các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số LN1612260009370 ký ngày 05/01/2017: Số tiền vay: 3.165.386.230 đồng; Thời hạn vay: 300 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên; Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua Căn hộ số 03, tầng 04, thuộc tòa nhà C, Địa chỉ: số B, ngõ A, đường L, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội (Park hill); Lãi suất trong hạn: 10,2%/năm, cố định từ ngày 06/01/2017 đến ngày 26/02/2019. Kể từ ngày 27/02/2019, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/1 lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau bậc thang thấp nhất của bên ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm diều chỉnh cộng (+) biên độ 4,5%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Khoản vay theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 14/01/2017 cho chị Ngô Thị Thanh A1 là 200 triệu đồng; Mục đích vay tiêu dùng lãi suất trong hạn theo quy định của V1 trong từng thời kỳ; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Tài sản bảo đảm của các khoản vay nêu trên là: Tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số P080403/Times City/HĐMBCH ngày 14/12/2016 ký giữa Công ty Cổ phần P và bà Ngô Thị Thanh A1, bao gồm tất
2
cả Phụ lục, văn bản sử đổi, bổ sung Hợp đồng này. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: LN1612260009370/TC ký ngày 05/01/2017 giữa V1 với bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 nên toàn bộ dư nợ của khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký. Sau khi khoản nợ bị chuyển nợ quá hạn, V1 đã đôn đốc, tạo điều kiện nhưng bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 13/01/2025, bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 còn nợ V1 số tiền là: Nợ gốc: 2.495.900.115 đồng; Nợ lãi phải trả (trong hạn và quá hạn): 2.601.108.224 đồng; Nợ lãi phạt chậm trả lãi: 854.411.720. Tổng cộng: 5.951.420.059 đồng.
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ đối với V1, trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, tính đến ngày 13/01/2025 khoản tiền này là:
Nợ gốc: 2.495.900.115 đồng; Nợ lãi phải trả (trong hạn và quá hạn): 2.601.108.224 đồng; Nợ lãi phạt chậm trả lãi: 854.411.720. Tổng cộng: 5.951.420.059 đồng.
Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến ngày bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 thực tế thanh toán hết nợ cho V1.
Yêu cầu Tòa án tuyên trong Q định/Bản án: V1 có quyền tự bán tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cuả khoản vay để thu hồi nợ cho V1, cụ thể là tài sản: Tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số P080403/Times City/HĐMBCH ngày 14/12/2016 ký giữa Công ty Cổ phần P và bà Ngô Thị Thanh A1, bao gồm tất cả Phụ lục, văn bản sử đổi, bổ sung Hợp đồng này. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: LN1612260009370/TC ký ngày 05/01/2017 giữa V1 với bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1.
V1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án áp dụng các biện pháp cần thiết để kê biên, xử lý các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo Bản án/Quyết định của Tòa án cho đến khi bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 hết nghĩa vụ với V1.
* Bị đơn ông Phan Anh T1 và bà Ngô Thị Thanh A1 thống nhất trình bày:
Ông T1 và bà A1 cùng xác nhận có vay của Ngân hàng V1 - Chi nhánh H4, theo các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số LN1612260009370 ký ngày 05/01/2017: Số tiền vay: 3.165.386.230 đồng; Thời hạn vay: 300 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên; Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua Căn hộ số 03, tầng 04, thuộc tòa nhà C, Địa chỉ: số B, ngõ A, đường L, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội (Park hill); Lãi suất trong hạn: 10,2%/năm, cố định từ ngày 06/01/2017 đến ngày 26/02/2019. Kể từ ngày 27/02/2019, lãi suất được điều chỉnh 03
3
tháng/1 lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau bậc thang thấp nhất của bên ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm diều chỉnh cộng (+) biên độ 4,5%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn.
Tài sản bảo đảm của các khoản vay nêu trên là: Tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số P080403/Times City/HĐMBCH ngày 14/12/2016 ký giữa Công ty Cổ phần P và bà Ngô Thị Thanh A1, bao gồm tất cả Phụ lục, văn bản sử đổi, bổ sung Hợp đồng này. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: LN1612260009370/TC ký ngày 05/01/2017 giữa V1 với bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1.
- Ngoài ra bà Ngô Thị Thanh A1 còn vay V1 khoản vay qua thẻ số tiền 200.000.000 đồng; Mục đích vay tiêu dùng lãi suất trong hạn theo quy định của V1 trong từng thời kỳ; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Theo ông T1, bà A1 khoản vay này là khoản vay tín chấp không đảm bảo bằng tài sản là quyền tài sản thuộc sở hữu của ông bà phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số P080403/Times City/HĐMBCH ngày 14/12/2016 ký giữa Công ty Cổ phần P và bà Ngô Thị Thanh A1, bao gồm tất cả Phụ lục, văn bản sử đổi, bổ sung Hợp đồng này. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: LN1612260009370/TC ký ngày 05/01/2017 giữa V1 với ông bà.
Ông T1, bà A1 xác nhận tính đến thời điểm này nợ Ngân hàng V1 theo hợp đồng tín dụng số LN1612260009370 ký ngày 05/01/2017:
Nợ gốc: 2.495.900.115 đồng; Nợ lãi phải trả (trong hạn và quá hạn): 2.601.108.224 đồng; Nợ lãi phạt chậm trả lãi: 854.411.720. Tổng cộng: 5.951.420.059 đồng.
Về phương án trả nợ ông T1, bà A1 xin trả V1 như sau: Kể từ ngày 01/4/2023 cứ 2 tháng ông bà trả V1 số tiền 300 triệu đồng cho đến khi trả hết khoản vay. Trường hợp V1 tạo điều kiện cho ông bà lấy được giấy tờ nhà đang thế chấp tại V1 ra ông bà bán nhà và tất toán toàn bộ khoản nợ ngay cho V1 và xin miễn toàn bộ lãi.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Lâm Hoài A2 và bà Lê Thị Minh L2 thống nhất trình bày:
Ông Lâm Hoài A2 và bà Lê Thị Minh L2 là chủ sở hữu Căn hộ chung cư P0312 B16, diện tích 65,4m² tại Tòa Park 03. Khu đô thị V, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội; đã được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số C1 988130, Số vào số cấp GCN: CS 25190 ngày 04/7/2017.
Tháng 12/2020, vì ông bà có nhu cầu tìm mua căn hộ có diện tích lớn hơn nên ông Hoài A2 có nhờ ông Đào Văn H3 (là nhân viên sale bên T) giới thiệu để mua Căn hộ chung cư tại địa chỉ: Căn hộ S tầng D, Tòa P (P) Khu đô thị V, phường M, quận H của bà Ngô Thị Thanh A1 và ông là anh Phan Anh T1 với giá thỏa thuận là 5.050.000.000 VNĐ. Tuy nhiên, tại thời điểm mua bán, căn hộ này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và căn hộ này cũng đang được vợ chồng bà A1, ông T1 thế chấp tại Ngân hàng V (V3).
Do đó, ngày 12/12/2020, vợ chồng ông và Bên bản là (bà Ngô Thị Thanh
4
A1 và ông Phan Anh T1) thỏa thuận lập và ký Hợp đồng đặt cọc số công chứng 6250.2020; Quyển số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng C, Thành phố Hà Nội chứng nhận với số tiền đặt cọc là 1.050.000.000 đồng, thời hạn từ ngày 12/12/2020 đến ngày 12/01/2021. Nếu sau thời gian này Bên bán không bán căn hộ nêu trên cho chúng tôi thì bên bán sẽ phải hoàn trả cho vợ chồng ông số tiền đặt cọc nêu trên và chịu phạt số tiền tương đương.
Ngày 06/01/2021, bà A1, ông T1 nói cần thêm tiền để tất toán khoản vay, giải chấp căn hộ nêu trên tại Ngân hàng nên có đề nghị ông bà tiếp tục chuyển thêm số tiền cọc là 500.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đặt cọc 2 lần là 1.550.000.000 đồng.
Cũng trong thời điểm này vợ ông Hoài A2, bà L2 có rao bán căn hộ chung cư P Tòa P, Khu đô thị V nên bà A1 biết thông tin này và đề nghị vợ chồng ông bà bán lại căn P0312316 do có nhu cầu muốn mua cho bố mẹ chồng chuyển về ở.
Do cảm thấy 2 bên đều có nhu cầu mua và bán phù hợp điều kiện của nhau nên vợ chồng ông đã đồng ý bản lại căn hộ P312816 cho bà A1 với giá: 3.200.000.000 đồng. Ngày 01/3/2021, hai bên đã ký “Bản ghi nhớ với nội dung: vợ chồng bà A1 bán Căn hộ số 03 tầng 04, Tòa P (P) Khu đô thị V, phường M, quận H, Hà Nội cho ông Hoài A2, bà L2 với giá 3.200.000.000 đồng. Bản chất đây là việc đổi nhà giữa hai bên.
Do ông bà đã đặt cọc mua căn hộ P80403 của bà A1 với số tiền là 1.550.000.000. Bà A1 đã trả số tiền 500.000.000 đồng cộng với số tiền 3.200.0000.000 đồng là giá trị căn hộ P312B16. Như vậy, tổng số tiền ông bà đã thanh toán cho bà A1 để mua căn hộ số 03 tầng 04, Tòa P (P) Khu đô thị V là: 4.250.000.000 đồng. Số tiền ông Hoài A2, bà L2 còn thiếu của bà A1, ông T1 là 800.000.000 đồng.
Hai bên sẽ trả nốt cho bà A1 sau khi bà A1 làm xong thủ tục sang tên số đó cho ông Hoài A2, bà L2 (theo như cam kết của chị A1 là trước ngày 31/03/2021).
Trong tháng 3/2021, bà A1 nói với vợ chồng ông, do nợ tại V1 là nợ xấu và chưa kịp rút tiền ra nên đã đề nghị ông bà thực hiện trước việc sang tên căn hộ P312B16 để dùng Số đó vay vốn và trả vào V1 để tất toán khoản nợ xấu kia tại V1 mới thực hiện được Hợp đồng mua bán đổi căn hộ số P80403 với ông bà.
Để đảm bảo việc vay vốn tại Ngân hàng được thuận lợi, bà A1 đề nghị vợ chồng ông làm thủ tục sang tên căn hộ P312B16 cho người quen của bà A1 là vợ chồng ông Nguyễn Sỹ H1 (sinh năm 1970, mang CCCD số 034070005506) và bà Vũ Thị Hồng L1 (sinh năm 1975, mang CCCD số 031175005969). Đăng ký hộ khẩu tại: Số A L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng.
Vì bà A1 đã hứa sẽ toàn tất mọi thủ tục sang tên căn hộ P80403 cho ông bà trong thời gian sớm nhất (vào tháng 4/2021) nên ngày 26/3/2021, vợ ông và ông Nguyễn Sỹ H1 cùng vợ là bà Vũ Thị Hồng L1 đã ký Hợp đồng mua bán căn hộ số công chứng 609.2021; Quyền số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, Thành phố Hà Nội với nội dung: vợ chồng ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông H1 bà L1 Căn hộ số P312B16, tòa Park 3 nêu trên.
5
Vợ chồng ông đã bàn giao nhà cho ông H1 bà L1 vào ngày 06/4/2021 có sự chứng kiến của ông Phan Anh T1 (chồng chị A1).
Nhưng thực tế, do bà A1 nhờ ông H1 bà L1 đứng tên hộ để thực hiện thỏa thuận đổi nhà giữa vợ chồng ông với vợ chồng bà A1 theo Bản ghi nhớ ngày 01/3/2021 nên vợ chồng ông H1 bà L1 không phải thanh toán số tiền mua nhà là: 3.200.000.000₫ cho vợ chồng ông. Bản chất Hợp đồng mua bán Căn hộ số P312B16, tòa Park 3 giữa vợ chồng ông với vợ chồng ông H1 bà L1 là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu thỏa thuận về việc đổi nhà giữa vợ chồng ông và vợ chồng bà A1, T1 theo Biên bản ghi nhớ ngày 01/3/2021.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, dù rất nhiều lần hứa hẹn, trì hoãn, khất lần nhưng vợ chồng bà A1 vẫn không thực hiện cam kết về việc hoàn tất thủ tục xóa thế chấp và bàn giao căn hộ số 03 tầng 04, Tòa P (P) Khu đô thị V, phường M, quận H cho vợ chồng ông. Vì vậy, ông Lâm Hoài A2 và bà Lê Thị Minh L2 đề nghị Tòa giải quyết:
Yêu cầu bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 thực hiện cam kết đã ký giữa hai bên: tất toán các khoản vay và toàn bộ nghĩa vụ tài chỉnh với Ngân hàng V1 để xóa đăng ký thế chấp, làm thủ tục sang tên Căn hộ số 03 tầng 04, Tòa P (P) Khu đô thị V, phường M, quận H cho vợ chồng ông;
Nếu không thực hiện được việc tất toán với Ngân hàng V1 thì ông bà yêu cầu bà A1 ông T1: Hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận đặt cọc là: 1.050.000.000₫;
Trả tiền phạt do vi phạm hợp đồng đặt cọc tương đương số tiền đặt cọc theo hợp đồng là: 1.050.000.000₫;
Bồi thường số tiền chúng tôi đã bỏ ra để sửa chữa căn hộ, mua sắm trang thiết bị nội thất là: 1.000.000.000₫.
Tuyên vô hiệu Hợp đồng mua bán Căn hộ chung cư ngày 26/3/2021, số công chứng 609.2021; Quyền số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, Thành phố Hà Nội, trả lại cho ông bà Căn hộ chung cư P0312 B16 Tòa Park 03. Khu đô thị V, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật;
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do vợ chồng ông Nguyễn Sỹ H1 và bà Vũ Thị Hồng L1 đứng tên căn hộ chung cư P, Khu đô thị V.
Ông Lâm Hoài A2 thừa nhận hiện tại đang cùng vợ có đơn tố cáo gửi đến công an Thành phố H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 về căn hộ C tầng D, Tòa P (P) Khu đô thị V, phường M, quận H, Hà Nội và công an Thành phố H đang thụ lý giải quyết.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sỹ H1 và bà Vũ Thị Hồng L1 thống nhất trình bày:
Theo đơn yêu cầu độc lập của ông Lâm Hoài A2 yêu cầu thì các nội dung yêu cầu tại phần 1,2 trong thông báo thụ lý không liên quan đến vợ chồng bà. Đây là việc giữa ông Lâm Hoài A2 và bà Ngô Thị Thanh A1, ông Phan Anh T1, Ngân hàng V3 không có quyền và nghĩa vụ gì liên quan đến vợ chồng bà nên không có ý kiến.
Đối với yêu cầu tại mục 3, trong thông báo thụ lý yêu cầu độc lập: Tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán căn hộ chung cư ngày 26/3/2021, số công chứng
6
609.2021 tại phòng C2, Thành phố Hà Nội và đòi lại nhà giải giải quyết hợp đồng vô hiệu, ông bà có ý kiến như sau: Ông bà mua căn hộ chung cư của ông Lâm Hoài A2 và bà Lê Minh L2 là giao dịch hợp pháp có công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật, các bên ký hợp đồng chuyền nhượng hoàn toàn tự nguyện thì các bên mới ký hợp đồng công chứng sang tên cho vợ chồng bà. Nên yêu cầu của ông Lâm Hoài A2 là không có căn cứ, ông bà đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Hoài A2.
Đối với yêu cầu của ông Lâm Hoài A2 tại mục 4 theo thông báo thụ lý về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất do ông bà đứng tên là không có căn cứ vì việc giao dịch chuyển nhượng nhà đất của ông bà đã được công chứng, ông bà đã thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Do đó quyền và lợi ích của ông bà đối với đất và nhà nêu trên phải được bảo vệ, không liên quan gì đến yêu cầu và tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn.
Vì vậy đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
* Công ty cổ phần V2 (Được đổi tên từ Công ty cổ phần P) đại diện theo pháp luật theo sự ủy quyền thường xuyên ông Vũ Thái N2 trình bày:
Ngày 14/12/2016 công ty và bà Ngô Thị Thanh A1 (CCCD/CMND số: 031180001290) đã ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số P080403/TimesCity/HĐMBCH (“Hợp Đồng Mua Bán”). Theo hợp đồng mua bán, tính đến nay bà Ngô Thị Thanh A1 đã thanh toán cho công ty số tiền là: 4.396.969.809 VNĐ trên tổng số tiền phải thanh toán theo Hợp đồng mua bán là 4.603.140....
Ngày 11/01/2017, bà Ngô Thị Thanh A1 đã nhận bàn giao căn hộ theo biên bản bàn giao căn hộ được ký giữa các bên (“Biên bản bàn giao”).
Công ty đã nhiều lần gửi Thông báo về việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho căn hộ P080403. Cụ thể, công ty đã gửi thông báo cho bà Ngô Thị Thanh A1 vào các ngày 02/10/2017, ngày 24/11/2017, ngày 27/12/2017 và ngày 27/2/2018.
Theo các thư thông báo của Công ty thì bà Ngô Thị Thanh A1 phải nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận muộn nhất ngày 15/3/2018. Tuy nhiên đến nay bà Ngô Thị Thanh A1 chưa hoàn thành nộp các hồ sơ để xin cấp Giấy chứng nhận cho Công ty.
Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 5.2(i) của hợp đồng mua bán bà Ngô Thị Thanh A1 có trách nhiệm (i) tự đi xin cấp thủ tục cấp Giấy chứng nhận và thanh toán cho công ty số tiền còn lại là 206.170.897 VNĐ (chưa bao gồm các khoản tiền lãi, chậm thanh toán, tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại theo quy định trước ngày 31/3/2018. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, bà Ngô Thị Thanh A3 vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên cùng các khoản tiền lãi, phạt chậm thanh toán cho công ty.
Đối với tranh chấp giữa bà Ngô Thị Thanh A1 và Ngân hàng TMCP V theo hồ sơ thụ lý sơ thẩm vụ án dân sự số 85/2021/TLST – DS ngày 17/11/2021 về quan hệ vay và trả nợ riêng giữa nguyên đơn và bị đơn, công ty không đưa ra yêu cầu độc lập trong vụ án này. Trường hợp Tòa án đưa vụ án ra
7
xét xử và tuyên Ngân hàng có quyền xử lý tài sản là hợp đồng mua bán căn hộ P080403 thì việc xử lý tài sản cần đảm bảo quyền lợi của công ty theo đúng hợp đồng mua bán và thỏa thuận về việc quản lý, xử lý tài sản tại ngân hàng giữa bà Ngô Thị Thanh A1, Công ty và Ngân hàng V ngày 04/01/2017.
Đồng thời, do không sắp xếp được nhân sự, công ty X vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án gồm triệu tập đến Tòa, công khai chứng cứ và hòa giải. thẩm định và xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
1Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với ông Phan Anh T1 và bà Ngô Thị Thanh A1.
Buộc ông Phan Anh T1 và bà Ngô Thị Thanh A1 cùng liên đới trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng TMCP V số tiền nợ gốc: 2.495.900.115 đồng; nợ lãi phải trả (trong hạn và quá hạn): 2.601.108.224 đồng. Tổng số tiền gốc lãi phải thanh toán: 5.097.008.339 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà ông Phan Anh T1 và bà Ngô Thị Thanh A1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số nợ gốc còn phải thi hành án, lãi chậm trả theo mức lãi xuất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Trong trường hợp ông Phan Anh T1 và bà Ngô Thị Thanh A1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản tiền trên thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm trong phạm vi nghĩa vụ bảo đảm. Khi xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản cần bảo đảm quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Qúa trình xử lý tài sản thế chấp những người thực tế đang sinh sống tại căn hộ là tài sản bảo đảm đều có nghĩa vụ thi hành.
2. Tách yêu cầu khởi kiện độc lập số 1, 2, 3, 5, 6 của ông Lâm Hoài A2 và vợ bà Lê Minh L2. Giành quyền khởi kiện đối với nội dung này cho ông Lâm Hoài A2, bà Lê Thị Minh L2 bằng vụ án khác, sau khi có kết luận chính thức của cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành phố H.
3. Về yêu cầu ông Lâm Hoài A2 và vợ bà Lê Thị Minh L2 đã bỏ ra để sửa chữa căn hộ, mua sắm trang thiết bị nội thất là: 1.000.000.000₫. Buộc ông Phan Anh T1 và bà Ngô Thị Thanh A1 cùng liên đới trách nhiệm thanh toán trả ông Lâm Hoài A2 và vợ bà Lê Thị Minh L2 số tiền sau khi đã khấu trừ hao mòn sử dụng là: 281.544.000 đồng.
4. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàng TMCP V là nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Hoài A2 kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Ngân hàng V4 đề nghị HĐXX sửa án sơ thẩm về cách tính lãi chậm trả lãi theo lãi suất 10%/ năm / tổng dư nợ lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Theo đó nợ lãi phạt chậm trả lãi là khoảng 260.000.000 đồng.
8
Bị đơn bà Ngô Thị Thanh A1 trình bày: Bà đồng ý với cách tính lãi chậm trả lãi của ngân hàng và đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông Phan Anh T1 thống nhất với ý kiến của bà Ngô Thị Thanh A1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Hoài A2, bà Lê Minh L2 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày: Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; không giải quyết yêu cầu độc lập của ông Lâm Hoài A2 và bà Lê Minh L2 trong cùng vụ kiện làm cho việc giải quyết vụ kiện không triệt để, không đảm bảo quyền lợi của đương sự. Cơ quan điều tra đã có Quyết định số 6328b/QĐ-CSHS về việc tách đơn của ông Lâm Hoài A2 tố giác bà Ngô Thị Thanh A1 về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đề nghị HĐXX Hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng L1 trình bày: Việc bà mua căn hộ là ngay tình, đúng quy định của pháp luật. Bà đã thanh toán tiền cho bà A1. Đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
HĐXX công bố lời khai của các đương sự vắng mặt.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V là nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Hoài A2 nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.
Về nội dung:
Ngày 05/01/2017 Ngân hàng TMCP V và bà Ngô Thị Thanh A1 ký kết hợp đồng tín dụng số LN1612260009370 ký: Số tiền vay: 3.165.386.230 đồng; Thời hạn vay: 300 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên; Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua Căn hộ số 03, tầng 04, thuộc tòa nhà C, địa chỉ: số B, ngõ A, đường L, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội (Park hill); Lãi suất trong hạn: 10,2%/năm, cố định từ ngày 06/01/2017 đến ngày 26/02/2019. Kể từ ngày 27/02/2019, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/1 lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau bậc thang thấp nhất của bên ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm diều chỉnh cộng (+) biên độ 4,5%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số P080403/Times City/HĐMBCH ngày 14/12/2016 ký giữa Công ty Cổ phần P và bà Ngô Thị Thanh A1, bao gồm tất cả Phụ lục, văn bản sử đổi, bổ sung Hợp đồng thế
9
chấp quyền tài sản số: LN1612260009370/TC ký ngày 05/01/2017 giữa V1 với bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1.
Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền tài sản ký kết giữa ngân hàng thương mại cổ phần V với bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phù hợp với các quy định tại Điều 401, Điều 402, Điều 403, Điều 404, Điều 405, Điều 406 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 luật các Tổ chức tín dụng năm 2005 vì vậy có hiệu lực với các bên.
Quá trình thực hiện hợp đồng:
Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, ngày 06/01/2017 hai bên ký Khế ước nhận nợ lần 1/số LN1612260009370. Kể từ ngày giải ngân, trong thời hạn vay vốn bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 đã thanh toán tiền theo kỳ hạn đầy đủ cho đến thời điểm ngày 26/2/2019 thì không thanh toán tiền nợ cho đến nay.
Ngày 16/8/2021 Ngân hàng TMCP V có đơn khởi kiện yêu cầu bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và quá hạn.
Khi ký Hợp đồng hai bên đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nội dung của Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, hai bên ký kết Hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của Hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật. Từ tháng 02/2019 bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 không trả được nợ. Bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 cùng thừa nhận khoản tiền gốc lãi hiện nay còn phải trả ngân hàng. Việc khởi kiện của bên ngân hàng là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 470 Luật dân sự năm 2015 Khoản 2 Điều 91 và Điều 93 của Luật các tổ chức tín dụng.
Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bên bị đơn là bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 phải trả bên nguyên đơn nợ gốc: 2.495.900.115 đồng; Nợ lãi phải trả (trong hạn và quá hạn): 2.601.108.224 đồng; Tổng cộng: 5.097.008.339 đồng tính đến thời điểm xét xử. (Số tiền lãi chậm trả lãi là: 854.411.720 đồng không phải thanh toán) và phải trả lãi phát sinh trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là đúng quy định. Trường hợp không trả được bên nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để trả nợ. Nếu tài sản thế chấp phát mại không đủ trả nợ thì bà A1, ông T1 vẫn phải chịu trách nhiệm về khoản tiền nợ còn thiếu.
Đối với kháng cáo của ngân hàng về số tiền phạt chậm trả lãi là không phù hợp với quy định tại Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất, và phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản (không phải hợp đồng tín dụng) và hợp đồng tín dụng nên không có căn cứ chấp nhận. Bị đơn bà A1 đồng ý với cách tính lãi phạt của ngân hàng nhưng thoả thuận này không phù hợp với quy định nêu trên nên không có căn cứ chấp nhận.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lâm Hoài A2, bà Lê Thị Minh L2 có yêu cầu độc lập cụ thể như sau:
Yêu cầu bà Ngô Thị Thanh A1 và ông Phan Anh T1 thực hiện cam kết đã ký giữa hai bên: tất toán các khoản vay và toàn bộ nghĩa vụ tài chỉnh với Ngân hàng V1 để xóa đăng ký thế chấp, làm thủ tục sang tên căn hộ số 03 tầng
10
04, Tòa P (P) Khu đô thị V, phường M, quận H cho vợ chồng ông;
Nếu không thực hiện được việc tất toán với Ngân hàng V1 thì ông bà yêu cầu bà A1 ông T1: Hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận đặt cọc là: 1.050.000.000₫;
Trả tiền phạt do vi phạm hợp đồng đặt cọc tương đương số tiền đặt cọc theo hợp đồng là: 1.050.000.000₫;
Bồi thường số tiền ông bà đã bỏ ra để sửa chữa căn hộ, mua sắm trang thiết bị nội thất là: 1.000.000.000₫.
Tuyên vô hiệu Hợp đồng mua bán Căn hộ chung cư ngày 26/3/2021, số công chứng 609.2021; Quyền số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, Thành phố Hà Nội, trả lại cho ông bà Căn hộ chung cư P0312 B16 Tòa Park 03. Khu đô thị V, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật;
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do vợ chồng ông Nguyễn Sỹ H1 và bà Vũ Thị Hồng L1 đứng tên căn hộ chung cư P, Khu đô thị V.
Đối với các yêu cầu số 1, 2, 3, 5, 6 của ông Lâm Hoài A2 và vợ bà Lê Minh L2 đang có yêu cầu tố cáo bà A1, ông T1 tại Công an Thành phố H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đang được cơ quan công an thụ lý giải quyết.
Bản án sơ thẩm căn cứ Khoản 2 Điều 42; Khoản 2 Điều 73 và điểm d Khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tách yêu cầu khởi kiện độc lập số 1, 2, 3, 5, 6 của ông Lâm Hoài A2 và vợ bà Lê Minh L2. Giành quyền khởi kiện đối với nội dung này cho ông Lâm Hoài A2, bà Lê Thị Minh L2 bằng vụ án khác, sau khi có kết luận chính thức của cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành phố H.
Bản án sơ thẩm chỉ xem xét yêu cầu bồi thường số tiền mà vợ chồng ông Lâm Hoài A2 và vợ bà Lê Thị Minh L2 dùng vào việc cải tạo, sữa chữa căn hộ số 03 tầng 04, Tòa Park 8 (P80403) Khu đô thị Vinhomes Times City Park Hill
Nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ kiện ông Hoài A2 có gửi đơn tố giác gửi Công an Thành phố H.
Ngày 27/3/2024 Toà án nhân dân quận Hoàng Mai có công văn gửi Công an Thành phố H yêu cầu cung cấp thông tin.
Ngày 16/5/2024 Toà án nhân dân quận Hoàng Mai ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện;
Ngày 16/6/2024 Toà án nhân dân quận Hoàng Mai ra Thông báo mở lại phiên toà.
Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập được tài liệu về việc cơ quan điều tra có khởi tố hành vi của bà Ngô Thị Thanh A1 theo đơn của ông Hoài A2 hay không. Trường hợp hết thời hạn điều tra theo quy định mà cơ quan điều tra chưa giải quyết vụ việc thì toà án cấp sơ thẩm giải quyết vụ việc theo thẩm quyền. Tại phiên toà sơ thẩm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập. Tài sản đang thế chấp tại ngân hàng cũng đang là đối tượng tranh chấp của quan hệ pháp luật khác trong vụ kiện. Việc tách yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan làm cho việc giải quyết vụ kiện không triệt để; không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
11
Ngày 7/10/2025 Công an Thành phố H đã có Quyết định số 6328b/QĐ-CSHS về việc tách đơn của ông Lâm Hoài A2 tố giác bà Ngô Thị Thanh A1 về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sản chuyển về Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.
Do đó, chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Hoài A2 về việc Huỷ bản án sơ thẩm số 01/2025/DSST ngày 13/01/2025 của Toà án nhân dân quận Hoàng Mai. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân khu vực 3 giải quyết theo quy định.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Hoài A2.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm: Do huỷ án sơ thẩm nguyên đơn ngân hàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Hoài A2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp.
Án phí dân sự sơ thẩm: Được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ kiện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
- Khoản 2 Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Giao hồ sơ vụ kiện cho Tòa án nhân dân khu vực 3 – Thành phố Hà Nội giải quyết theo quy định.
Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Hoài A2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 0034571; 0034573 ngày 10/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Án phí dân sự sơ thẩm: Được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ kiện.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Liên Anh |
12
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Các Thẩm phán | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
13
14
Bản án số 01/2026/DS-PT ngày 02/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Ngô Thị Thanh An
