Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2026/KDTM-PT

Ngày: 14-01-2026

V/v “Đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công.

Ông Trần Văn Thưởng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Huy - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Trần Thị Ánh Ngân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2025/TLPT-KDTM ngày 08 tháng 10 năm 2025 về “Đòi lại tài sản”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2025/KDTM-ST ngày 08 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 311/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 322/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần X (Viết tắt là Công ty X); địa chỉ: E Xa lộ H, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Thanh Q; địa chỉ: H T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 19-12-2025). Có mặt.

  2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn H (Viết tắt là Công ty H); địa chỉ: I H, phường D, tỉnh Gia Lai.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành C, chức vụ: Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Kiên V; địa chỉ: I H, phường D, tỉnh Gia Lai; địa chỉ liên lạc: Khu D nguồn, xã I, tỉnh Gia Lai (Theo văn bản ủy quyền ngày 24-4-2025). Có mặt.

  3. Người kháng cáo: Bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần X là ông Ngô Thanh Q trình bày:

    Ngày 24-02-2016, Công ty cổ phần X và Công ty TNHH H ký kết Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp số 10/HĐTC/2016. Theo đó, Công ty H giao cho Công ty X nhận thầu xây lắp, hạng mục nhà máy và kênh xả thủy điện Đ1 (bậc 1), tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Giá trị hợp đồng là 10.450.000.000 đồng.

    Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty X đã thi công và hoàn thành nghĩa vụ của bên nhận thầu theo cam kết tại hợp đồng và hai bên tiến hành nghiệm thu công trình gồm 4 đợt.

    Đến ngày 29-12-2017, Công ty X đã hoàn thành xong và Công ty H cũng đã ký xác nhận nghiệm thu (đợt cuối) khối lượng hoàn thành trong giai đoạn xây lắp tại Biên bản Quyết toán số 01-QT ngày 29-12-2017. Đồng thời, Công ty X cũng đã xác định lại giá trị hợp đồng trên thực tế và được thể hiện tại Hồ sơ quyết toán là 3.850.273.000 đồng. Công trình sẽ được bảo hành trong thời hạn 12 tháng (tính từ ngày 30-12-2017 đến ngày 30-12-2018) và Công ty H sẽ giữ 5% giá trị hợp đồng.

    Đến nay, Công ty X đã hoàn thành xong toàn bộ nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện hợp đồng xây lắp. Khối lượng thi công hoàn thành và giá trị thi công cũng đã được Chủ đầu tư Công ty cổ phần T ĐăkPơsi, tổng thầu là Công ty H xác nhận ngày 19-12-2017. Theo đó, giá trị thi công mà Công ty H phải thanh toán cho Công ty X là 3.850.273.000 đồng.

    Tuy nhiên, Công ty H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền đối với Công ty X theo cam kết tại Hợp đồng. Cụ thể là: Công ty H mới thanh toán cho Công ty X số tiền 2.825.114.650 đồng, gồm các đợt chuyển khoản sau: Ngày 09-9-2016: 1.500.000.000 đồng, tiền tạm ứng hợp đồng; ngày 20-12-2016: 789.022.650 đồng, thanh toán khối lượng nghiệm thu đợt 1; ngày 20-01-2017: 336.092.000 đồng, thanh toán khối lượng nghiệm thu đợt 2; ngày 02-11-2019: 100.000.000 đồng, tiền tạm ứng sửa chữa chống thấm Đak Psi (nhà máy); ngày 20-01-2020: 100.000.000 đồng, tiền tạm ứng hợp đồng.

    Như vậy, Công ty H còn nợ Công ty X số tiền chưa thanh toán là 1.025.158.350 đồng.

    Việc Công ty H không trả tiền cho Công ty X số tiền còn nợ là 1.025.158.350 đồng nói trên đã gây rất nhiều khó khăn về tài chính cho Công ty X trong suốt thời gian dài. Mặc dù Công ty X đã liên tục hối thúc, nhiều lần liên hệ và yêu cầu phía Công ty H trả khoản nợ trên cho Công ty X. Nhưng đến thời điểm hiện tại, Công ty H vẫn không thanh toán khoản tiền này cho Công ty X và cố ý né tránh trách nhiệm trả nợ.

    Vì vây, Công ty X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty H phải trả cho Công ty X số tiền còn nợ lại là: 1.025.158.350 đồng.

    Theo đơn khởi kiện ngày 13-01-2025, Công ty X yêu cầu Toà án buộc Công ty H phải trả tiền nợ lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả nêu trên với mức lãi suất theo quy định của Luật thương mại từ ngày chậm trả 31-12-2018 đến ngày khởi kiện. Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của Công ty X rút yêu cầu về trả lãi, không buộc Công ty H phải trả nợ lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả nêu trên.

  2. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty TNHH H là ông Nguyễn Kiên V trình bày:

    Ngày 24-02-2016, Công ty H và Công ty X đã ký kết “Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp” số 10/HĐTC/2016. Theo đó, Công ty H giao cho Công ty X nhận thầu xây lắp, hạng mục nhà máy và kênh xả thủy điện Đ1 (bậc 1), tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Giá trị hợp đồng là 10.450.000.000 đồng.

    Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty X đã thi công được một phần gói thầu. Tuy nhiên trong quá trình thi công Công ty X liên tục vi phạm về tiến độ và chất lượng công trình nên đến ngày 29-12-2017 các bên thống nhất ký xác nhận nghiệm thu giai đoạn xây lắp theo Biên bản Quyết toán số 01-QT ngày 29-12-2017 với số tiền quyết toán là 3.850.273.000 đồng. Công ty H thanh toán cho Công ty X số tiền 2.625.114.650 đồng, gồm các đợt chuyển khoản sau: Ngày 09-9-2016: 1.500.000.000 đồng, tiền tạm ứng hợp đồng; ngày 20-12-2016: 789.022.650 đồng, thanh toán khối lượng nghiệm thu đợt 1; ngày 20-01-2017: 336.092.000 đồng, thanh toán khối lượng nghiệm thu đợt 2.

    Khi ký kết Biên bản Quyết toán số 01-QT ngày 29-12-2017, Công ty H yêu cầu Công ty X phải hoàn thành việc sửa chữa, bổ sung những khối lượng còn thiếu theo Bảng tổng hợp quyết toán khối lượng công việc hoàn thành số 04 ngày 29-12-2017, trong đó có nhiều hạng mục, khối lượng chưa đạt chất lượng, chưa được nghiệm thu. Tuy nhiên, sau khi ký xong Biên bản Quyết toán số 01-QT ngày 29-12-2017, Công ty X không tiếp tục thi công, bỏ việc tại công trường. Khi Công ty H yêu cầu thì Công ty X mới sửa chữa được một phần công việc tương ứng với số tiền 200.000.000 đồng và Công ty H đã thanh toán vào ngày 02-11-2019: 100.000.000 đồng, ngày 20-01-2020: 100.000.000 đồng.

    Do Công ty X không tiếp tục thi công, bỏ việc tại công trường buộc lòng Công ty H phải thuê đơn vị khác vào thi công, sửa chữa những phần việc còn lại của Công ty X. Như vậy, tranh chấp hợp đồng xây lắp công trình giữa Công ty H và Công ty X phát sinh từ ngày 21-01-2020.

    Tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự quy định “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.

    Tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

    Tại Điều 429 Bộ luật Dân sự quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

    Tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định rằng sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây: “... e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết...”.

    Căn cứ vào các quy định nêu trên thì Đ lại tài sản giữa Công ty H và Công ty X phát sinh từ ngày 21-01-2020 nhưng đến ngày 13-01-2025 Công ty X mới khởi kiện là đã quá 3 năm, theo quy định của pháp luật Công ty X đã mất quyền khởi kiện nên Công ty H đề nghị áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện nêu trên. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

  3. Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/KDTM-ST ngày 08-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai đã quyết định:

    Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Áp dụng các Điều 157, 274, 275, 280, 357, 429 và 468 của Bộ luật Dân sự.

    Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Công ty cổ phần X về việc buộc Công ty TNHH H trả tiền nợ lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả với mức lãi suất theo quy định của Luật Thương mại tính từ ngày chậm trả (ngày 31-12-2018) đến ngày khởi kiện.

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần X.

    Buộc Công ty TNHH H phải trả cho Công ty cổ phần X số tiền 1.025.158.350 đồng.

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định về lãi chậm thực hiện nghĩa vụ, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự.

  4. Kháng cáo:

    Ngày 18-7-2025, bị đơn là Công ty H kháng cáo một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 08-7-2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 184, Điều 429, điểm e Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

    Bản án không bị kháng nghị, nguyên đơn không kháng cáo.

  5. Tại phiên toà phúc thẩm:
    • - Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện.
    • - Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
    • - Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
    • - Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử phúc thẩm, người tham gia tố tụng bảo đảm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của Công ty TNHH H:

Ngày 24-02-2016, Công ty TNHH H và Công ty cổ phần X ký kết Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp số 10/HĐTC/2016; giá trị hợp đồng (tạm tính) là 10.450.000.000 đồng; giá trị hợp đồng chính thức là giá trị Công ty X thi công thực tế được Công ty H chấp nhận nghiệm thu thanh toán.

Tại mục 1.2 Điều 1 của Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp số 10/HĐTC/ 2016 ngày 24-02-2016, các bên thỏa thuận: “...Khối lượng công việc hoàn thành là khối lượng được chủ đầu tư chấp nhận nghiệm thu thanh toán”.

Căn cứ vào Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo Hợp đồng đề nghị thanh toán, Biên bản số: 01-QT quyết toán khối lượng hoàn thành trong giai đoạn xây lắp ngày 29-12-2017, Bảng khối lượng nghiệm thu quyết toán chi tiết thanh toán lần thứ 4/2017/HTXL và Bảng tổng hợp quyết toán khối lượng công việc hoàn thành số 04 ngày 29-12-2017 thì giá trị hợp đồng chính thức là 3.850.273.000 đồng; số tiền quyết toán là 3.850.273.000 đồng. Công ty H đã thanh toán 2.825.114.650 đồng cho Công ty X (cụ thể: Ngày 09-9-2016 thanh toán 1.500.000.000 đồng, ngày 20-12-2016 thanh toán 789.022.650 đồng, ngày 20-01-2017 thanh toán 336.092.000 đồng, ngày 02-11-2019 thanh toán 100.000.000 đồng, ngày 20-01-2020 thanh toán 100.000.000 đồng). Sau đó, Công ty X đã nhiều lần yêu cầu nhưng Công ty H vẫn không thanh toán số tiền còn nợ. Vì vậy, Công ty X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty H phải thanh toán cho Công ty X số tiền còn nợ là 1.025.158.350 đồng.

Công ty H kháng cáo cho rằng tranh chấp hợp đồng giao nhận thầu xây lắp giữa Công ty H và Công ty X phát sinh từ ngày 21-01-2020 nhưng đến ngày 13-01-2025, Công ty X mới khởi kiện là đã quá 3 năm, hết thời hiệu khởi kiện nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 3 Điều 150 và Điều 429 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 184 và điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngày 29-12-2017, Công ty H và Công ty X đã có văn bản thỏa thuận hoàn thành việc thực hiện Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp số 10/HĐTC/2016 ngày 24-02-2016 và Công ty H đã xác định nghĩa vụ thanh toán 3.850.273.000 đồng cho Công ty H, tức là các bên không còn tranh chấp về hợp đồng giao nhận thầu xây lắp nữa; việc Công ty X khởi kiện yêu cầu Công ty H thanh toán 1.025.158.350 đồng còn nợ cho Công ty X phải được xác định là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại là “Tranh chấp hợp đồng giao nhận thầu xây lắp” là chưa chính xác.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự thì trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Vì vậy, kháng cáo của Công ty H về việc đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện là không có căn cứ.

Mặc dù, xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty X, buộc Công ty H thanh toán 1.025.158.350 đồng cho Công ty X là có cơ sở.

Từ những nhận định nói trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm bị kháng cáo, nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 155, 274, 275, 280, 357 và 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn H; giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2025/KDTM-ST ngày 08 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần X.
    2. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn H phải trả cho Công ty cổ phần X số tiền 1.025.158.350 đồng.

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của khoản tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất được tính theo Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Công ty cổ phần X về việc buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn H trả tiền nợ lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả với mức lãi suất theo quy định của Luật Thương mại tính từ ngày chậm trả (ngày 31-12-2018) đến ngày khởi kiện.
    4. Án phí dân sự sơ thẩm:

      Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn H phải chịu 42.754.751 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

      Công ty cổ phần X không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; hoàn trả lại cho Công ty cổ phần X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 34.832.579 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 001154 ngày 21-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Gia Lai).

  2. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn H phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp là 2.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001025 ngày 30-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; Công ty trách nhiệm hữu hạn H đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND khu vực 7 - Gia Lai;
  • - THADS tỉnh Gia Lai;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/KDTM-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 01/2026/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger