Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2026/HSST

Ngày: 05/01/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Nguyễn Văn Hành.
    • 2. Ông Nguyễn Văn Tuất.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên tòa:
  • Ông Dương Sơn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2025/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo.

LÊ BÁ H, sinh năm 1983; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở: TDP H, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Lê Bá N và con bà Trần Thị N1; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

Ngày 31/03/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/09/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 10' ngày 10/9/2025, tổ công tác Công an phường T tuần tra kiểm soát địa bàn, khi đến trước nhà số A đường N, phường T, phát hiện đối tượng Lê Bá H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, tại chỗ Hợi không xuất trình được giấy tờ tùy thân.

Sau đó, Lê Bá H đến trụ sở Công an phường T đầu thú. Tại Công an phường T, H khai nhận: H đã từng đi cai nghiện tại trung tâm C, tỉnh Thanh Hóa từ tháng 03 năm 2022 đến tháng 03 năm 2024. Hợi bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2014, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, tần suất 02 lần/ tuần. Khoảng 19 giờ ngày 05/09/2025 H cùng với 01 người đàn ông tên T (là người quen khi đi làm công trình, H không biết nhân thân, lai lịch) đi ăn, uống rượu tại 01 quán ăn vỉa hè, quá trình ăn uống, T mang theo ma túy đá và cho H một ít, H liền vào nhà vệ sinh của quán và sử dụng hết số ma túy trên, do say rượu nên H không nhớ địa chỉ quán ở đâu.

Cơ quan CSĐT đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Lê Bá H để xét nghiệm ma túy; tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38 màu đen, Imei 1: 869511068255955, Imei 2: 869511068255948, trong điện thoại lắp 01 sim Itelecom (số thuê bao: 0876026103) và 01 sim Vinaphone.

Tại Bản kết luận giám định số 5953 ngày 17/9/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: "Trong mẫu nước tiểu của Lê Bá H thu ngày 10/9/2025 có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine./."

Tiến hành xác minh tại nơi cư trú của H ở thị trấn R, nay là phường Đ, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan CSĐT xác định: Lê Bá H đã chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 14/3/2022 đến ngày 13/3/2024. Hiện Lê Bá H là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 122 ngày 26/3/2024 của UBND thị trấn R, huyện Đ (nay là phường Đ, tỉnh Thanh Hóa) trong thời hạn từ ngày 26/03/2024 đến ngày 26/03/2026.

Đối với người đàn ông tên T cho Lê Bá H ma túy để sử dụng, do không có thông tin để xác minh con người cụ thể, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38 màu đen của Lê Bá H, tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS-KV11 ngày 25 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội truy tố bị cáo Lê Bá H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt: Lê Bá H từ 26 đến 30 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Áp dụng 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Trả lại bị cáo H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38 màu đen.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo Lê Bá H giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh:

    Lê Bá H là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, theo Quyết định số 122 ngày 26/03/2024 của UBND thị trấn R, huyện Đ (nay là phường Đ, tỉnh Thanh Hóa) thời hạn 02 năm, kể từ ngày 26/03/2024 đến ngày 26/03/2026. Khoảng 19 giờ ngày 05/09/2025, Lê Bá H sử dụng ma túy. Ngày 10/09/2025, Công an phường T, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đường N, T, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lê Bá H, lấy mẫu nước tiểu để giám định, kết quả: Trong mẫu nước tiểu của Lê Bá H thu ngày 10/09/2025 có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine.

    Hành vi của bị cáo Lê Bá H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

  3. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Ma túy là mối nguy hiểm của xã hội, bởi nó không chỉ là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là tác nhân trực tiếp làm cho tệ nạn ma túy phát triển. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác.
  4. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

    Về nhân thân: Bị cáo đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện, đã được giáo dục pháp luật nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Điều này chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; Sau khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã ra cơ quan Công an để đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  5. Về vật chứng:

    Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38 màu đen đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

  6. Về các vấn đề khác:

    Đối với người đàn ông tên T cho Lê Bá H ma túy để sử dụng, do không có thông tin để xác minh con người cụ thể, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, xử lý. Tòa không xét.

  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Lê Bá H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Căn cứ 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt:

    Bị cáo Lê Bá H 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/09/2025.

  2. Về vật chứng
    • + Trả lại bị cáo Lê Bá H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38 màu đen, Imei 1: 869511068255955, I: 869511068255948.
    • (Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực vực 11 – Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/12/2025).
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 11 - Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 11 - Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT – Tp Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại (nếu có);
  • - Những người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HSST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI về sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2026/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo H sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger