| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA Bản án số: 01/2026/HS-ST Ngày: 07/01/2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình, Ông Trần Hoàng Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Khánh Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 18/12/2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1985 tại Ninh Thuận (nay là Khánh Hòa); Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T1 và bà Huỳnh Thị H; Vợ Nguyễn Thị L (đã ly hôn); có 01 người con, sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 29/4/2003, bị Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Khánh Hòa) xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Ngày 24/9/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (Nay là Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù theo quyết định của bản án hình sự phúc thẩm số 20/HSPT ngày 24/6/2003 của TAND tỉnh Ninh Thuận, buộc chấp hành hình phạt chung là 33 tháng tù, đến ngày 20/9/2005 thì chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 27/11/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 11, TP . xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, đến ngày 15/3/2023 thì chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 04/11/2025, bị Công an tỉnh K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P - T, Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh K (có mặt).
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Thôn L, xã C, tỉnh Khánh Hòa. - Ông Phạm Xuân T2, sinh năm 1980
Nơi cư trú: Khu phố A, phường N, tỉnh Khánh Hòa.
(Bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Xuân T2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/6/2025, tiếp nhận tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại Khách sạn K1, thuộc khu phố H, phường P, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa), Trần Văn T thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N (Nay là Công an tỉnh K) phối hợp với Công an phường P (Nay là Công an phường P, tỉnh Khánh Hòa) tiến hành kiểm tra Khách sạn K1. Qua làm việc với đại diện Khách sạn K1 được biết Trần Văn T thuê phòng số 106. Kiểm tra phòng số 106, lực lượng Công an phát hiện bên trong phòng gồm có: Trần Văn T, Nguyễn Thị H1. Trên bàn gỗ trong phòng có 01 vỏ chai nước, loại Sting trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nước, một lỗ gắn nỏ thủy tinh, trong nỏ thủy tinh dính chất kết tinh màu nâu trắng (Nghi ma túy – Ký hiệu M1); 01 quẹt ga gắn kim khò. Trong tủ quần áo có 01 hộp kim loại màu vàng tám cạnh, không có nắp; 01 gói nylon dạng miệng khép dính đựng 02 gói nylon, hàn kín chứa chất tinh thể, màu trắng (Nghi ma túy – Ký hiệu M2); 01 cân tiểu li, màu đen; 03 kéo bằng kim loại; 02 đoạn ống hút một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn; 01 cuộn băng keo, màu đen; 01 gói nylon đựng 17 tép nhựa có kích thước khác nhau, hàn kín ba mặt, một mặt hở. Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ: 01 điện thoại di động, hiệu Relme, màu xanh, gắn sim số 0908696185, Imei1: 865991075656265/07; 01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu trắng, không có sim, số seri R58R309EJ3R (Bút lục số: 38-39).
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 18 giờ ngày 09/6/2025, Trần Văn T gọi điện thoại cho một người tên B (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) nhưng không gọi được. Sau đó, T chạy đến khu vực ngã 5 P, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa) thì nhìn thấy B đang đứng gần tiệm Thế giới di động ở ngã 5 P, T đến gặp B hỏi “Sao điện thoại không được”, B nói “Điện thoại bị mất” thì T xin số điện thoại của B nhưng B không cho, T hỏi B “Khi nào muốn lấy ma túy thì liên hệ như thế nào”, B trả lời cứ chạy lên ngã 5 P là sẽ gặp B. T kêu B mua hộ 1.000.000 đồng ma túy đá để về sử dụng, B nói không có, T tiếp tục nhờ B mua hộ 03 tép ma túy, với số tiền 600.000 đồng, B kêu đưa tiền thì T đưa cho B số tiền 500.000 đồng, B kêu T đứng đợi, B đi được khoảng 15 phút đến 20 phút thì quay lại đưa ma túy cho T. Khi đã nhận được ma túy, Thảo cầm về phòng số 106, Khách sạn K1, T lấy 01 tép ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh sử dụng một mình. Số ma túy còn lại, T cất giấu vào hộp sắt bên trong tủ quần áo khách sạn. Khi T đang sử dụng ma túy thì Nguyễn Thị H1 đến chơi, H1 không sử dụng ma túy, T lấy dụng cụ sử dụng ma túy bỏ vào tủ quần áo khách sạn. Đến khoảng 07 giờ ngày 10/6/2025, khi H1 đang nằm ngủ thì T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra để ở bàn gỗ trong phòng số 106 để sử dụng ma túy nhưng do T mệt nên không sử dụng, T lên giường nằm ngủ. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, mời T, H1 về trụ sở để làm việc (Bút lục số: 95-96, 110-111).
* Tại Kết luận giám định số: 156/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N (Nay là Công an tỉnh K) kết luận:
Chất tinh thể màu nâu trắng trong nỏ thủy tinh (Ký hiệu M1) và chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là M1: 0,0427g, M2: 0,5287g (Hoàn trả đối tượng sau giám định, khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định là M2: 0,3728g, M1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định, trả toàn bộ đồ vật và bao gói gửi đến giám định) (Bút lục số: 48)
Trong quá trình điều tra, bị can Trần Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình.
* Vật chứng của vụ án:
Mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N, chữ ký họ tên Nguyễn Nghi A, Trịnh Đình Q, Bùi Hữu H2, Lê Đình L1 và dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh N gồm: 0,3728g, ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ chai nước, loại Sting trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nước, một lỗ gắn nỏ thủy tinh và 01 hộp giấy được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an phường P, chữ ký họ tên Lê Kỳ K, Phan Đình V, Phạm Anh C, Trần Văn T, bên trong có: 01 quẹt ga gắn kim khò; 01 hộp kim loại màu vàng tám cạnh, không có nắp; 01 cân tiểu li, màu đen; 03 kéo bằng kim loại; 02 đoạn ống hút một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn; 01 cuộn băng keo, màu đen; 01 gói nylon đựng 17 tép nhựa có kích thước khác nhau, hàn kín ba mặt, một mặt hở.
Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Relme, màu xanh, gắn sim số 0908696185, Imei1: 865991075656265/07; 01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu trắng, không có sim, số seri R58R309EJ3R của Trần Văn T không sử dụng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 12/CT-VKSKV5 ngày 27/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa, truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng; Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng để bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/6/2025, tại Khách sạn K1, thuộc Khu phố H, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa), Trần Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,5714 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi vi phạm tội:
Ma túy là một trong những tệ nạn xã hội cần được bài trừ bởi nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến xã hội.
Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methamphetamine của bị cáo nhằm mục đích sử dụng là hết sức nguy hiểm không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự công cộng tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật khi bị phát hiện sẽ bị trừng trị một cách nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm cho thấy bị cáo bất chấp hậu quả và xem thường pháp luật nên cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Do đó, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Đối với một người tên B đã mua hộ ma túy cho Trần Văn T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[6] Đối với Nguyễn Thị H1 và anh Phạm Xuân T2 là chủ Khách sạn Kỳ P, không biết việc Trần Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng:
Mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N, chữ ký họ tên Nguyễn Nghi A, Trịnh Đình Q, Bùi Hữu H2, Lê Đình L1 và dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh N gồm: 0,3728g, ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ chai nước, loại Sting trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nước, một lỗ gắn nỏ thủy tinh và 01 hộp giấy được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an phường P, chữ ký họ tên Lê Kỳ K, Phan Đình V, Phạm Anh C, Trần Văn T, bên trong có: 01 quẹt ga gắn kim khò; 01 hộp kim loại màu vàng tám cạnh, không có nắp; 01 cân tiểu li, màu đen; 03 kéo bằng kim loại; 02 đoạn ống hút một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn; 01 cuộn băng keo, màu đen; 01 gói nylon đựng 17 tép nhựa có kích thước khác nhau, hàn kín ba mặt, một mặt hở.
Đây là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Relme, màu xanh, gắn sim số 0908696185, Imei1: 865991075656265/07; 01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu trắng, không có sim, số seri R58R309EJ3R của Trần Văn T không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho Trần Văn T là có căn cứ.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/6/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ Mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N, chữ ký họ tên Nguyễn Nghi A, Trịnh Đình Q, Bùi Hữu H2, Lê Đình L1 và dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh N gồm: 0,3728g, ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ chai nước, loại Sting trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nước, một lỗ gắn nỏ thủy tinh và 01 hộp giấy được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an phường P, chữ ký họ tên Lê Kỳ K, Phan Đình V, Phạm Anh C, Trần Văn T, bên trong có: 01 quẹt ga gắn kim khò; 01 hộp kim loại màu vàng tám cạnh, không có nắp; 01 cân tiểu li, màu đen; 03 kéo bằng kim loại; 02 đoạn ống hút một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn; 01 cuộn băng keo, màu đen; 01 gói nylon đựng 17 tép nhựa có kích thước khác nhau, hàn kín ba mặt, một mặt hở.
Trả lại cho Trần Văn T: 01 điện thoại di động, hiệu Relme, màu xanh, gắn sim số 0908696185, Imei1: 865991075656265/07; 01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu trắng, không có sim, số seri R58R309EJ3R.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh K với Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Khánh Hòa.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 07/01/2026.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực 5 – Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; NLQ - Lưu án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
| HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Văn Bình Trần Hoàng Liên | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 01/2026/HS-ST ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2026/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T bị xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
