TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2026/HS-PT
Ngày: 06-01-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Vân
Bà Nguyễn Thị Hải Âu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Như Huyền Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 288/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với Phạm Việt V, Phạm Thị Hồng T, Lê Văn Đ. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 21-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
1. Phạm Việt V, tên gọi khác: G; sinh năm 1983 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố S (nay là tổ dân phố H), phường B, thành phố C (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện tại: Thôn G, xã C, thành phố C (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: thợ sơn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình Đức D và bà Nguyễn Thị Kim Y; có vợ là Đinh Khả T1 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 18/4/1999, gây rối trật tự công cộng bị Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa lập hồ sơ xử lý. Ngày 17/6/1999, gây rối trật tự công cộng bị Công an thị trấn B lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đồng. (Quá trình điều tra xác định năm 2002, Công an thị trấn B giải thể, hồ sơ xử phạt đối với Phạm Việt V đã bị thất lạc nên không có cơ sở để thu thập).
- Ngày 24/12/1999, bị Chủ tịch UBND thị trấn B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương trong thời gian 06 tháng.
- Ngày 25/01/2000, bị Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa xử phạt hành chính số tiền 100.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 21/4/2003, UBND phường B, thị xã C, tỉnh Khánh Hòa áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương.
(Quá trình điều tra xác định, hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương của Chủ tịch UBND thị trấn B, của UBND phường B và Quyết định xử phạt hành chính của Công an thị trấn B đã bị thất lạc nên không thu thập được).
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/HSST ngày 14-3-2005 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Phạm Việt V 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2005/HSST ngày 25-7-2005 của Toà án nhân dân thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Phạm Việt V 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp hình phạt với Bản án số 94/HSST ngày 14-3-2005 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị cáo phải chấp hành 54 tháng tù (bị cáo chấp hành án tại trại giam A xong ngày 04-02-2009).
- Ngày 29-6-2010, bị Công an phường C, thị xã C, tỉnh Khánh Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 150.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (bị cáo V đã chấp hành xong).
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2010/HSST ngày 29-11-2010 của Toà án nhân dân thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chấp hành án tại TRẠI GIAM A xong ngày 06-8-2011).
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn G, xã C, thành phố C (nay là phường B tỉnh Khánh Hòa) - Có mặt.
2. Phạm Thị Hồng T, sinh năm 1992 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm F, thôn A, xã B, huyện B (nay là xã B), tỉnh Quảng Ngãi; nơi ở hiện nay: Hẻm C đường X, phường G, thành phố Đ (nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; không có chồng; có 01 con; tiền án, tiền sự: không; tại ngoại - Có mặt.
3. Lê Văn Đ, sinh năm 1995 tại tỉnh Lâm Đồng; trú tại: SỐ E ĐƯỜNG C, PHƯỜNG G, THÀNH PHỐ Đ (NAY LÀ PHƯỜNG L - Đ), TỈNH LÂM ĐỒNG; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T3 và bà Lỗ Thị H; có vợ là Phạm Thị Kim O và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; tại ngoại - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19-3-2024, Huỳnh M cùng với Phạm Việt V và Trần Quốc H1 tổ chức ăn và uống rượu ở phòng trọ số 1 của M tại hẻm S X, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (cũ). Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, thì chuyển qua phòng trọ số 4 của H1, lúc này có Phạm Thị Hồng T ở phòng trọ số 5 qua tham gia. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, M, T và V về phòng nghỉ ngơi. Sau đó, M xảy ra mâu thuẫn với người yêu là L thì T và H1 có đến gõ cửa để hỏi chuyện. Lúc này, V ở trong phòng nói với T “chuyện của chúng nó thì để chúng nó tự giải quyết”, nghe vậy T nói lại “anh im đi”. V nghe T và H1 nói lại, nghĩ là khiêu khích mình nên lao ra cửa, dùng tay trái đấm một cái trúng vào mặt của H1. Rồi cả hai tiếp tục giằng co, vật nhau ngã xuống đất. Thấy vậy, T nhặt một viên gạch 06 lỗ ném trúng trán của V. Thấy vậy, M ở trong phòng chạy ra can ngăn và tát vào mặt, T bỏ về phòng. Sau đó, Văn nghĩ H1 dùng gạch đánh mình nên vào nhà vệ sinh lấy một cây kéo bằng kim loại đâm 01 cái trượt qua lưng của H1 nhưng không gây thương tích. Tiếp đó, mọi người vào can ngăn V rồi M đưa V vào phòng nghỉ ngơi.
Khi T về phòng thì gọi điện thoại cho em gái là Phạm Thị Kim O nói “trên này mấy ông kia đánh chị” thì Lê Văn Đ là chồng của O nghe thấy T bị đánh thì nói với T “cứ tập trung ăn nhậu rồi đánh nhau”, nói xong thì Đ tắt máy.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19-3-2024, Đ chở O đến dãy trọ của T. Khi đến trước cửa phòng M, Đ gặp và đứng nói chuyện với H1. Nghe tiếng Hoan nên T đi ra nói chuyện và nói mọi chuyện ổn rồi thì Đ nói lại “thôi đóng cửa đi ngủ đi, say hết cả rồi”. Sau đó, Đ đi ra lấy xe để đi về còn T nói H1 đi về phòng nghỉ ngơi. Lúc này, V ở trong phòng nghe thấy tiếng của T nên mở cửa ra, thấy V, T bỏ chạy về phòng. Văn giật cây phơi đồ bằng kim loại, hình chữ V, dài khoảng 02m đuổi theo ném về phía T nhưng không trúng. T vừa chạy vừa hét lên “nó giết tôi, nó giết tôi”, rồi về phòng khóa cửa lại. Đ nghe thấy tiếng của T thì quay lại, thấy V đang cầm cây kim loại chọc vào phòng T nên Đ lao đến ôm Văn vật xuống đất, đè lên người Văn. Thấy vậy T liền cầm một con dao bằng kim loại lao ra đánh V. Đ thấy T cầm dao lao tới thì hất tay T làm dao rơi xuống đất. Văn vùng người đòi đánh T thì Đ nhặt dao lên cầm trên tay phải rồi dùng phần sống lưng của dao gõ vào đỉnh đầu của V. V dùng hai tay chụp vào phần lưỡi dao giằng co với Đ. Quá trình giằng co, lưỡi dao gây ra các vết thương cho V ở má phải, mu bàn tay phải, khuỷu tay trái. Sau đó, mọi người can ngăn. Hậu quả: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Việt V, tại thời điểm giám định là 12%, (Trong đó: Tổn thương do vật sắc gây nên, gồm: Sẹo đỉnh đầu, sẹo thái dương má phải, sẹo khuỷu trái và sẹo mu ô mô cái bàn tay phải (thương tích do Đ dùng dao đánh gây ra, tổng là 09%). Tổn thương do vật tày có cạnh gây nên: sẹo trán phải (thương tích do T sử dụng gạch đánh gây ra, 03%).
Tại Biên bản làm việc với hệ thống chính trị và đại diện các hộ dân quanh nơi xảy ra vụ việc ở hẻm C X, phường G, thành phố Đ (cũ): “thời điểm xảy ra vụ việc khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, hai bên chửi bới to tiếng tại khu vực dãy trọ. Sự việc kéo dài làm mất an ninh trật tự tại địa phương”.
Ngày 26-3-2024, UBND phường G1, thành phố Đ (cũ) có Công văn số 107/UBND xác định: “vụ việc diễn ra tại dãy nhà trọ đường H X, phường G, thành phố Đ nằm ở khu dân cư đông người. Do đó, vụ việc trên gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự chung, an toàn xã hội, hoạt động của cộng đồng tại địa phương”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 21-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng đã quyết định: Tuyên bố Phạm Việt V, Phạm Thị Hồng T, Lê Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với T), xử phạt Phạm Việt V 36 (ba mươi sáu) tháng tù; Phạm Thị Hồng T 30 (ba mươi) tháng tù; Lê Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Ngoài ra, Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 30-7-2025, Phạm Việt V kháng cáo xem xét và xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 31-7-2025, Lê Văn Đ kháng cáo xem xét cho hưởng án treo hoặc giảm nhẹ tội.
Ngày 01-8-2025, Phạm Thị Hồng T kháng cáo xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng thời giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm: Cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, Phạm Việt V, Lê Văn Đ cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, tuy nhiên hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng là tương xứng với hành vi các bị cáo; riêng Phạm Thị Hồng T cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đang mang thai và có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của V và Đ; chấp nhận kháng cáo của Phạm Thị Hồng T, áp dụng thêm điểm n khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Phạm Việt V, Phạm Thị Hồng T, Lê Văn Đ nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi vi phạm, lời khai phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19-3-2024, tại khu phòng trọ thuộc hẻm S đường X, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (cũ), Phạm Việt V, Huỳnh M, Trần Quốc H1 và Phạm Thị Hồng T sau khi ăn và uống rượu xong thì xảy ra mâu thuẫn đánh nhau.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19-3-2024, Lê Văn Đ đến dãy trọ của T. Tại đây, V, T và Đ tiếp tục xảy ra mâu thuẫn đánh nhau. Văn giật cây phơi đồ bằng kim loại đuổi đánh T. T vừa chạy vừa hét. Đ nghe thấy tiếng của T và thấy V đang cầm cây kim loại chọc vào phòng T nên lao đến ôm Văn vật xuống đất, đè lên người Văn. T cầm một con dao bằng kim loại lao ra để đánh V. Đ thấy T cầm dao lao tới thì hất tay T làm dao rơi xuống đất. Văn vùng người đòi đánh T thì Đ nhặt dao lên cầm trên tay phải rồi dùng phần sống lưng của dao gõ vào đỉnh đầu của V. V dùng hai tay chụp vào phần lưỡi dao giằng co với Đ. Quá trình giằng co, lưỡi dao gây ra các vết thương cho V ở má phải, mu bàn tay phải, khuỷu tay trái. Sau đó, mọi người can ngăn.
Tại Biên bản làm việc với hệ thống chính trị và đại diện các hộ dân quanh nơi xảy ra vụ việc tại Hẻm C X, phường G, thành phố Đ (cũ): “thời điểm xảy ra vụ việc khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, hai bên chửi bởi to tiếng tại khu vực dãy trọ. Sự việc kéo dài làm mất an ninh trật tự tại địa phương”.
Ngày 26-3-2024, UBND phường G1, thành phố Đ (cũ) có công văn số 107/UBND xác định: “vụ việc diễn ra tại dãy nhà trọ đường H X, phường G, thành phố Đ nằm ở khu dân cư đông người. Do đó, vụ việc trên gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự chung, an toàn xã hội, hoạt động của cộng đồng tại địa phương”.
Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 21-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng kết án Phạm Việt V, Phạm Thị Hồng T, Lê Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của Phạm Việt V, Phạm Thị Hồng T, Lê Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, Phạm Việt V cho rằng gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình phải nuôi con nhỏ và cha mẹ già ốm yếu. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, đồng thời hiểu rõ việc làm của bị cáo là xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an của khu vực nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội; đối với Lê Văn Đ, cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
[3.2]. Đối với Phạm Thị Hồng T cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: bị cáo T đang mang thai nên có căn cứ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự nên cần giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phù hợp nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Không chấp nhận kháng cáo của Phạm Việt V, Lê Văn Đ; chấp nhận kháng cáo của Phạm Thị Hồng T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 21-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
1.1 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Việt V 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn Đ 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
1.3 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị Hồng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Giao Phạm Thị Hồng T cho Ủy ban nhân dân phường L – Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục người bị kết án trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Phạm Việt V, Lê Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vinh |
Bản án số 01/2026/HS-PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 01/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Việt V, Phạm Thị Hồng T, Lê Văn Đ phạm tội "Gây rối trật tự công cộng"
