Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2026/HS-PT

Ngày: 06-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình
Ông Nguyễn Vĩnh Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Niềm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 226/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo Trương Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trương Văn Đ, sinh ngày 01/01/1952 tại Sóc Trăng.

Tên gọi khác: Không

Nơi ĐKTT: ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp V, xã N, thành phố Cần Thơ). Chỗ ở hiện tại: ấp V, xã N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 01/12; Họ tên cha: Trương Văn Ba N, sinh năm 1920 (Chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1918 (Chết); Vợ bị cáo tên: Trương Thị Thu D, sinh năm 1953. Con bị cáo có 03 người, L nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1982. Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2025, cho đến nay. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phong V, là Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S.

- Những người tham gia tố tụng khác:

Bị hại: Ông Trần Văn K, sinh ngày 01/01/1981 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã N, thành phố Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Lý B, là Luật sư, Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 29/11/2024, ông Trần Văn K cùng vợ là bà Trần Thị P đến phần đất trống thuộc ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp V, xã N, thành phố Cần Thơ) làm hàng rào trồng hoa để bán tết. Khi thấy ông K làm hàng rào, cho rằng đó là phần đất của mình nên bị cáo Trương Văn Đ lấy 01 cây dao tự chế có phần lưỡi dao sắc-nhọn dài khoảng 24cm, được hàn với phần cán là thanh kim loại hình hộp chữ nhật dài 140cm đi ra tìm bị hại K để gây thương tích. Khi tới chỗ bị hại K và vợ là bà P thì bị cáo la lên: “Tao đâm chết mẹ hai vợ chồng mày” rồi dùng dao đâm về phía bị hại K nhưng bị hại né tránh được nên không trúng, bị hại K lùi lại chạy về phía hàng rào của mình thì bị cáo đâm thêm 01 cái nữa nhưng không trúng. Lúc này bị cáo quay sang chỗ bị hại dựng hàng rào và dùng dao tự chế cắt dây buộc hàng rào nên bị hại K đi đến định ngăn cản thì bị cáo Trương Văn Đ dùng hung khí nguy hiểm là phần cán dao bằng kim loại đánh trúng vào vùng đầu bên trái của bị hại một cái. Đánh xong bị cáo Đ bị mất thăng bằng nên tự té ngã trong tư thế nằm ngửa, khủy trái và vai trái va chạm xuống nền xi măng trên lề đường. Khi té ngã bị cáo vẫn tiếp tục cầm phần cán dao và quơ phần mũi dao hướng về phía bị hại K làm trúng gây ra các thương tích cho bị hại ở vùng mặt. Do đó, bị hại dùng tay định chụp lấy cây dao để ngăn không cho bị cáo tiếp tục gây thương tích, thì bị cáo dùng tay cầm hung khí nguy hiểm tiếp tục đâm mũi dao hướng vào cánh tay phải của bị hại. Lúc này bị hại K cũng nắm chụp được dao của bị cáo và hai bên giằng co nhau khiến lưỡi dao đâm vào cánh tay phải của bị hại gây thương tích. Thấy chồng bị đâm nên bà P chạy đến nắm giật được dao của bị cáo ra (sau đó bà P đem dao đi giao nộp cho Công an), đồng thời những người khác cũng đến can ngăn thì bị cáo Đ bỏ chạy về nhà, còn bị hại K do bức xúc hành vi gây thương tích của bị cáo nên chạy đuổi theo bị cáo để đánh bằng tay nhưng không trúng và té ngã. Do chảy nhiều máu nên bị hại được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh S, sau khi xuất viện bị hại Trần Văn K đã có đơn trình báo yêu cầu xử lý hành vi gây thương tích của bị cáo Trương Văn Đ

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với ông Trần Văn K số 23/KLTTCT-TTPYST ngày 13/01/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận như sau: Sẹo phần mềm vùng mặt giữa hai chân mày, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (ba phần trăm). Sẹo phần mềm mi trên đuôi mắt trái không co kéo hở mi, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (ba phần trăm).

Sẹo phần mềm vùng má trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (ba phần trăm). Sẹo kéo dài từ 1/3 trên sau ngoài đến 1/3 trên sau trong cánh tay phải, kích thước lớn. Đứt gân cơ tam đầu, gân cơ delta đã được phẫu thuật khâu nối, gây yếu cánh tay phải mức độ ít. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 07% (bảy phần trăm). Vết rối loạn sắc tố da vùng mũi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (một phần trăm). Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trần Văn K tại thời điểm giám định là 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Tổn thương vùng mặt giữa hai chân mày, vùng mắt trái, vùng má trái và cánh tay phải có đặc điểm do vật có cạnh sắc hoặc cạnh sắc - nhọn gây nên, không xác định được vật gây thương tích vùng mũi.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với ông Trương Văn Đ số 67/KLTTCT-TTPYST ngày 18/02/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận như sau: Vết sây sát da bả vai trái, khuỷu trái để lại vết rối loạn sắc tố da. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (Một phần trăm). Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị can Trương Văn Đ tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm). Kết luận khác: Không xác định được vật gây thương tích.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Đ ban đầu thừa nhận có cầm dao tự chế ra cự cãi với vợ chồng của bị hại K, sau đó giơ dao hướng về bị hại K, khi bị hại chụp dao thì hai bên giằng co, bị cáo nằm dưới đất cầm cán dao hướng lên trên còn bị hại thì kẹp tay giữ phần lưỡi dao dẫn đến thương tích cho bị hại. Tuy nhiên, sau đó bị cáo không nhận tội, cho rằng bản thân không có đánh nhau với bị hại, không gây thương tích cho bị hại mà do bị hại tự trúng vào dao của bị cáo đang cầm trên tay gây ra. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi dùng dao để gây thương tích cho bị hại.

Vật chứng của vụ án Cơ quan điều tra đã thu giữ, hiện còn quản lý gồm: 01 (một) cục bê tông màu xám, không rõ hình dạng, có kích thước nơi rộng nhất là: 12 x 10 x 06 cm; 01 (một) thanh kim loại hình hộp chữ nhật, có kích thước: 140 x 04 x 02 cm, trên thanh kim loại có vết màu nâu đỏ đã khô, một đầu của thanh kim loại có gắn 01 cây dao, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 24 cm, rộng 3,8 cm, mũi dao nhọn, một lưỡi sắc, cán dao bằng gỗ được đóng chặt vào bên trong thanh kim loại (tổng chiều dài của dao và thanh kim loại là 168 cm).

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS.KV8 ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cần Thơ truy tố bị cáo Trương Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024 và 2025).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025

của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cần Thơ, đã quyết định (tóm tắt):

  1. Xử phạt: Bị cáo Trương Văn Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm của bị hại Trần Văn K.

    Buộc bị cáo Trương Văn Đ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho bị hại Trần Văn K số tiền là 29.503.329 đồng.

    Không chấp nhận yêu cầu bồi thường đối với số tiền tiền bồi dưỡng tập vật lý trị liệu mà bị hại Trần Văn K yêu cầu đối với bị cáo Trương Văn Đ phải bồi thường.

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, thì hàng tháng Trương Văn Đ còn phải trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

- Ngày 13/10/2025, bị cáo Trương Văn Đ kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, với các lý do:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; nhất thời phạm tội, đã nộp tiền khắc phục hậu quả; bản thân có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan chức năng giám sát giáo dục (nếu tự cải tạo), không gây mất an ninh trật tự ở địa phương.

- Ngày 13/10/2025, người bị hại là ông Trần Văn K kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự; về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 287.400.000đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ kháng cáo, xin được hưởng án treo. Người bị hại xin rút lại kháng cáo về tăng nặng trách nhiệm hình đối với bị cáo, đề nghị giữ nguyên như án sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại các khoản với số tiền 73.600.000đ (bảy mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm tranh luận:

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối chiếu với hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Khi xét xử ở cấp sơ thẩm, giữa bị cáo với bị hại đã thống nhất được số tiền bồi thường nên cấp sơ thẩm ghi nhận. Vì vậy, không có cơ sở để buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 73.600.000 đồng như bị hại yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phát biểu quan điểm tranh luận:

Bị cáo khai báo chưa thành khẩn về hành vi phạm tội nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử không cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Khi kháng cáo, bị cáo có nộp bảng kê chi phí điều trị với số tiền hơn 8.900.000 đồng, đồng thời cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tiền mất thu nhập, tổn thất tinh thần 16 tháng lương cơ sở (cấp sơ thẩm chỉ buộc bồi thường 10 tháng lương cơ sở), tổng cộng số tiền như bị hại yêu cầu 73.600.000 đồng là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu này của bị hại.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Đối với kháng cáo của bị cáo Trương Văn Đ: Bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Đồng thời, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung đối với những người có hành vi bạo lực trong xã hội như hiện nay nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo.

Đối với kháng cáo của bị hại Trần Văn K: Về tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị hại đã rút kháng cáo phần này tại phiên tòa nên không xem xét; Về trách nhiệm dân sự: Khi kháng cáo, bị hại có cung cấp thêm chứng cứ là Bảng kê khai chi phí điều trị thương tích với số tiền 8.905.520đồng nhưng cơ quan Bảo hiểm thanh toán, chi trả toàn bộ phần chi phí này, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Trương Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là dao tự chế (dài 164cm) tấn công vào các vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại như vùng mặt, đầu và cánh tay. Hậu quả gây thương tích cho ông Trần Văn K với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Hành vi này không chỉ xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2015, 2024 và 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo:

Về các tình tiết giảm nhẹ: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị cáo là người cao tuổi (trên 70 tuổi); có công

với cách mạng (được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì) và có nhân thân tốt.

Về việc áp dụng hình phạt: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới (ngoài các tình tính giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng nêu trên). Bị cáo cung cấp chứng cứ (có thân nhân là người có công cách mạng) nhưng tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đã được cấp sơ thẩm áp dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy, dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng hành vi phạm tội là rất nguy hiểm, bị cáo không có ý thức tôn trọng pháp luật mà dùng hung khí nguy hiểm tấn công bị hại để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn nên cần phải xử lý nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 09 tháng tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) là đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Việc cho bị cáo xin được hưởng án treo là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, chưa đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung nên không được chấp nhận.

[3] Xét kháng cáo của bị hại Trần Văn K.

- Về yêu cầu tăng hình phạt: Tại phiên tòa, bị hại xin rút lại kháng cáo phần này nên cấp phúc thẩm không xem xét về tăng hình phạt đối với bị cáo.

- Vê yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại:

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ trên sự thống nhất giữa các bên bị cáo và bị hại về chi phí thực tế (viện phí, chi phí thuê xe chuyển viện, tiền mất thu nhập) mà bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường với số tiền 6.103.329 đồng. Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn tuyên buộc bị cáo phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị hại (do sức khỏe bị xâm phạm) là 10 tháng lương cơ sở (tương đương 23.400.000 đồng) là có căn cứ theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Tổng số tiền bồi thường 29.503.329 đồng là phù hợp với quy định pháp luật và các tài liệu, chứng từ có trong hồ sơ vụ án.

Giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị hại cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh các chi phí phát sinh hợp lệ khác, nên không có căn cứ để tăng số tiền bồi thường (73.600.000 đồng) như yêu cầu tại phiên tòa phúc thẩm.

Bảng kê chi phí điều trị thương tích (từ ngày 29/11/2024 - 05/12/2024) mà bị hại cung cấp ở giai đoạn phúc thẩm thể hiện số tiền 8.905.520 đồng nhưng xét thấy, cơ quan Bảo hiểm y tế thanh toán toàn bộ chi phí này, bị hại không phải chi trả nên không có cơ sở để buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại với số tiền như bị hại yêu cầu nói trên.

[4] Từ những phân tích nêu trên nhận thấy, kháng cáo của bị cáo và bị hại là không có căn cứ để chấp nhận. Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo không có căn cứ chấp nhận, lẽ ra bị cáo phải chịu án phí nhưng do bị cáo thuộc đối tượng là người cao tuổi, có công cách mạng nên được xem xét miễn theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn Đ và không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Văn K.
  2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HSST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.

    Tuyên bố:

    Bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 38, điểm b, s, o, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024 và 2025).

    Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án hoặc bị cáo tự nguyện chấp hành án.

    Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trương Văn Đ bồi thường cho ông Trần Văn K tổng cộng số tiền 29.503.329 đồng.

    Ghi nhận bị cáo đã tạm nộp số tiền 29.503.329 đồng (theo Biên lai thu tiền ngày 29/8/2025 và 16/10/2025 tại cơ quan thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ) để đảm bảo thi hành án.

    Ông K được quyền liên hệ với Cơ quan thi hành án nơi bị cáo Đ nộp tiền để bồi thường, khắc phục hậu quả.

  3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND TPCT;
  • - Sở Tư pháp TPCT;
  • - Công an TPCT;
  • - Cơ quan THTT Khu vực 8 - Cần Thơ;
  • - Bị cáo và những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Bảo Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HS-PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 01/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger