Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 01/2026/HNGĐ-PT

Ngày 14 - 01 - 2026

V/v Tranh chấp ly hôn,

chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Bà Giang Thị Cẩm Thuý

Ông Trương Thanh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 48/2025/TLPT-HNGĐ ngày 24/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐ-PT ngày 27/11/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1979, (có mặt)

    CCCD: 096179000685; cấp ngày 13/4/2021; nơi cấp: Bộ C1.

    Địa chỉ: khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu N1 là Luật sư - Văn phòng luật sư Ngô Đình C, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C, (có mặt)

  2. Bị đơn: Ông Võ Văn D, sinh ngày 19/5/1975, (có mặt).

    CCCD: 096075010905, cấp ngày 09/8/2021; nơi cấp Bộ Công an.

    Địa chỉ: khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Văn T là Luật sư - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C, (có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ngân hàng thương mại cổ phần S1.

      Địa chỉ: Số B N, Phường X, thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Ông Nguyễn Phước H, chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ, phòng kiểm soát rủi ro – Chi nhánh C2, (vắng mặt).

    2. Bà Trần Thanh T1, sinh năm 1986, (vắng mặt)

      Địa chỉ: Khóm B, xã C, tỉnh Cà Mau.

    3. Bà Lê Thị A, sinh năm 1952, (có mặt)

      CCCD: 096152007246; cấp ngày 09/8/2021; nơi cấp: Bộ C1.

      Địa chỉ: khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau

    4. Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1976, (vắng mặt)

      Địa chỉ: khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau.

    5. Bà Võ Kiều D1, sinh ngày 09/8/1988, (có mặt).

      CCCD: 096188009797, cấp ngày 09/8/2021; nơi cấp: Bộ C1.

      Địa chỉ: khóm C, xã C, tỉnh Cà Mau.

    6. Bà Tô Thị L, sinh ngày 01/01/1959, (vắng mặt).

      CCCD: 096159007278, cấp ngày 14/6/2021; nơi cấp: Bộ C1

      Địa chỉ: khóm C, xã C, tỉnh Cà Mau.

    7. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, (vắng mặt).

      Địa chỉ: Số E, đường H, Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1979 và bị đơn ông Võ Văn D, sinh ngày 19/51975.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2022, lời khai trong quá trình tố tụng bà bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D thống nhất trình bày:

- Về hôn nhân: Bà N và ông D chung sống với nhau từ năm 1996 trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức cưới, hỏi theo phong tục địa phương, đến năm 2011 đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/12/2011, tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, nên bà N xin ly hôn, ông D cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N.

- Về con chung: Bà N, ông D thống nhất xác định, vợ chồng có 02 người con tên Võ Chí Đ1, sinh năm 1997 đã lập gia đình sống riêng và Võ Chí T2, sinh năm 2002 cũng đã trưởng thành, khi ly hôn bà N, ông D không yêu cầu giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung:

  • + Bà N xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  • + Ông D xác định tài sản chung vợ chồng gồm: Một phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 10.350m², (đo đạc thực tế diện tích 8.542,7m²), thửa số 155, tờ bản đồ số 07), tọa lạc tại khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc do cha ruột tên Võ Văn Đ2 cho riêng ông năm 2000 và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày14/12/2000, trong thời gian vợ chồng sống chung, do ông thiếu nợ nhiều người, nên đến ngày 27/8/2019 ông làm thủ tục tặng cho N toàn bộ phần đất diện tích 10.350m² và bà N đã được ghi tên vào mặt 4 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/9/2019, nay ông xác định phần đất bà N đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng, ông yêu cầu được chia ½ diện tích đất và yêu cầu được nhận hiện vật, giá trị phần đất khoảng 900.000.000 đồng, ông đồng ý giao lại cho bà N ½ giá trị bằng số tiền 450.000.000 đồng.

Trên phần đất có 01 căn nhà xây dựng năm 2012, trị giá khoảng 300.000.000 đồng, do nhà là tài sản chung của vợ chồng, nên ông yêu cầu chia đôi và ông xin được nhận nhà, hoàn lại cho bà N ½ giá trị nhà bằng số tiền 150.000.000 đồng.

Ông D xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần S1, với số tiền 280.000.000 đồng, yêu cầu chia đôi trả.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • + Ngân hàng thương mại cổ phần S1 trình bày và yêu cầu: Bà N và ông D có vay của Ngân hàng B khoản nợ gồm: Khoản vay thứ nhất vay có thế chấp tài sản với số tiền vốn gốc 280.000.000 đồng và khoản vay thứ hai là cấp thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng, vẫn chung tài sản thế chấp. Trong quá trình vay bà N và ông D không đóng lãi và không thanh toán nợ gốc đúng theo hợp đồng tín dụng, hiện nay các khoản vay đã quá hạn.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà N và ông D cùng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi vay số tiền 501.514.914 đồng, (trong đó, vốn vay thế chấp tài sản và thẻ tín dụng 330.000.000 đồng, lãi trong hạn và quá hạn số tiền 171.514.914 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 10/9/2025 cho đến khi thanh toán hợp đồng theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng. Trường hợp bà N và ông D không có khả năng trả nợ, Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ phần đất diện tích đất 10.350m², tại thửa số 155, tờ bản đồ số 07 và tài sản gắn liền với đất, tọa lạc tại khóm N, xã C (địa chỉ cũ: thị trấn C, huyện C), tỉnh Cà Mau để Ngân hàng thu hồi nợ.

  • + Bà Võ Kiều D1 trình bày và yêu cầu: Bà tham gia chơi 03 dây hụi do bà N làm chủ hụi, cụ thể như sau:

  1. Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 10/5/2020 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 02 lần, gồm có 35 chưng, bà tham gia chơi 02 chưng và đã đóng nuôi hụi được 25 kỳ thì bà N đình hụi, nên bà N còn nợ bà số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
  2. Dây hụi thứ hai: Mở ngày 30/02/2021 (âm lịch), loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 26 chưng, bà tham gia chơi 01 chưng và đã đóng nuôi hụi được 18 kỳ thì bà N đình hụi nên bà N còn nợ bà số tiền 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng).
  3. Dây hụi thứ ba: Mở ngày 01/7/2022 (âm lịch), loại hụi 50.000 đồng, mỗi ngày khui 01 lần, gồm có 70 chưng bà tham gia chơi 10 chưng và đã đóng nuôi hụi được 39 kỳ thì bà N đình hụi nên bà N nợ bà số tiền 19.500.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, ngày 28/6/2022 (âm lịch), bà N có mượn của bà số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

Tổng cộng bà N nợ tiền hụi của 03 dây hụi và tiền mượn là 163.500.000 đồng, nay bà yêu cầu bà N và chồng là ông D cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền 163.500.000 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

  • + Bà Tô Thị L trình bày và yêu cầu: Bà có tham gia chơi 02 dây hụi do bà N làm chủ hụi, cụ thể như sau:

  1. Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 10/5/2020 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 02 lần, gồm có 35 chưng, bà tham gia chơi 02 chưng và đã đóng nuôi hụi được 25 kỳ thì bà N đình hụi nên bà N còn nợ bà số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
  2. Dây hụi thứ hai: Mở ngày 30/02/2021 (âm lịch), loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 26 chưng, bà tham gia chơi 01 chưng và đã đóng nuôi hụi được 18 kỳ thì bà N đình hụi nên bà N còn nợ bà số tiền 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng).

Tổng số tiền hụi của hai dây hụi bà N còn nợ bà số tiền 104.000.000 đồng, nay bà yêu cầu bà N và chồng là ông D cùng liên đới thanh toán số tiền 104.000.000 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu đồng).

  • + Bà Trần Thanh T1 trình bày và yêu cầu: Bà N và ông D có tham gia chơi 01 dây hụi do bà làm chủ hụi, cụ thể như sau:

Dây hụi mở ngày 15/01/2022 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 21 chưng, bà N và ông D tham gia chơi 01 chưng và đã hốt hụi vào ngày 15/3/2022 (âm lịch), sau khi hốt hụi bà N, ông D có đóng hụi chết nhưng không đầy đủ, từ tháng 02/2023 (tháng 02 nhuận) bà N và ông D không đóng hụi chết cho đến khi kết thúc hụi bà N và ông D còn nợ 07 kỳ bằng số tiền 35.000.000 đồng, nay bà yêu cầu bà N và ông D cùng liên đới thanh toán số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

Từ những nội dung trên, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Cà Mau đã quyết định:

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị N. Xử cho bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1979 được ly hôn với ông Võ Văn D, sinh năm 1975.
  2. Về nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D xác định các con đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung:
    • + Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung của ông Võ Văn D.

      • Chia cho ông Võ Văn D ½ giá trị căn nhà cấp 4 và các công trình phụ xung quanh căn nhà, bằng số tiền 246.109.400 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu một trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng).

      • Chia cho bà Huỳnh Thị Ngọc ½ giá trị căn nhà cấp 4 và các công trình phụ xung quanh căn nhà, bằng số tiền 246.109.400 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu một trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng) và giao cho bà Huỳnh Thị N được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng căn nhà và các công trình phụ nêu trên.

      • Buộc bà Huỳnh Thị N có trách nhiệm hoàn trả cho ông Võ Văn D số tiền 246.109.400 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu, một trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng) được chia.

    • + Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của ông Võ Văn D đối với phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 10.350m² (đo đạc thực tế diện tích 8.542,7m²), tại thửa số 155, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau.

  4. Về nợ chung: Chấp nhận yêu của Ngân hàng thương mại cổ phần S1. Buộc bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D cùng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vay và tiền lãi tính đến ngày 09/9/2025 số tiền 501.514.914 đồng, (trong đó tiền vốn vay số tiền 330.000.000 đồng, lãi trong hạn và quá hạn số tiền 171.514.914 đồng).
  5. Về nợ riêng: Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Võ Kiều D1, bà Tô Thị L và bà Trần Thanh T1.
    1. Buộc bà Huỳnh Thị N thanh toán cho bà Võ Kiều D1 số tiền hụi và tiền mượn còn nợ 163.500.000 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng),
    2. Buộc bà Huỳnh Thị N thanh toán cho bà Tô Thị L số tiền hụi còn nợ 104.000.000 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu đồng).
    3. Buộc bà Huỳnh Thị N thanh toán cho bà Trần Thanh T1 số tiền hụi còn nợ 35.000.000 đồng (Ba mươi năm triệu đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, lãi suất trong giai đoạn thi hành án, xử lý tài sản thế chấp, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 24/9/2025, bà Huỳnh Thị N kháng cáo không đồng ý chia tài sản chung đối với căn nhà cấp 4 và các công trình phụ, yêu cầu ông D cùng có trách nhiệm trả các khoản nợ của bà D1, bà T1 và bà L. Tại phiên toà phúc thẩm, bà N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ngày 25/9/2025 ông Võ Văn D kháng cáo yêu cầu sửa một phần Bản án sơ thẩm, theo hướng chia phần đất diện tích 10.371,02m² (đo đạc thực tế diện tích 8.542,7m²), yêu cầu được nhận đất, nhà hoàn lại giá trị nhà đất cho bà N theo kết quả định giá. Tại phiên toà, ông D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn phát biểu tranh luận: Phần đất diện tích 10.350m² (đo đạc thực tế diện tích 8.542,7m²) mặc dù có nguồn gốc của cha mẹ ông D tặng cho ông D năm 2000 trước thời gian ông D đăng ký kết hôn với bà N là tài sản riêng của ông D. Tuy nhiên, ngày 27/8/2019 ông D làm hợp đồng tặng cho bà N toàn bộ phần đất là tài sản riêng của ông D, bà N thực hiện các thủ tục nộp thuế, kê khai, đăng ký và đã được ghi tên vào mặt 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông D đứng tên, nên phần đất này là tài sản riêng của bà N. Trên phần đất có căn nhà và các công trình phụ xung quanh căn nhà, mặc dù nhà được xây dựng trong thời kỳ hôn nhân tồn tại, nhưng do bà N tự bỏ tiền ra xây dựng, ông D không bỏ tiền ra xây dựng, nên căn nhà và các công trình phụ là tài sản riêng của bà N, nên cấp sơ thẩm chia cho ông D ½ giá trị nhà và các công trình phụ là chưa phù hợp.

Đối với các khoản nợ của bà D1, bà T1 và bà L phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, quá trình bà N làm chủ hụi, chơi hụi và mượn tiền cũng để phục vụ cho cuộc sống chung vợ chồng, lo cho con ăn học và các khoản chi tiêu thiết yếu trong gia đình, nên ông D phải cùng có trách nhiệm với bà N để trả nợ cho bà L, bà D1 và bà T1. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng không chia ½ giá trị căn nhà và các công trình xung quanh căn nhà cho ông D, buộc ông D cùng có trách nhiệm với bà N trả các khoản nợ cho bà L, bà D1 và bà T1, không chấp nhận kháng cáo của ông D.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn phát biểu tranh luận: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông D tặng cho riêng ông D, do trong quá trình chung sống ông D thiếu nợ nhiều người nên ông D làm thủ tục tặng cho bà N, nhưng vợ chồng ông D, bà N vẫn cùng quản lý, sử dụng phần đất này, nên vẫn còn là tài sản chung vợ chồng, hiện nay bà N đang phải chấp hành Bản án hình sự với thời gian 13 năm nên không thể quản lý, sử dụng nhà đất, ông D đang trực tiếp quản lý, sử dụng nhà, đất làm nơi mua bán sinh sống duy nhất, nên việc chia và giao nhà đất cho ông D quản lý, sử dụng là phù hợp. Đối với các khoản nợ của bà D1, bà L và bà T1 do bà N tự làm chủ hụi ông D không biết, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông D, sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng chia nhà, đất và giao cho ông D quản lý, sử dụng nhà đất, ông D hoàn giá trị được chia cho bà N, không chấp nhận kháng cáo của bà N.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

  • - Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông D, chấp nhận một phần kháng cáo của bà N, sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Cà Mau, theo hướng buộc ông D có trách nhiệm cùng bà N trả nợ cho bà D1, bà L và bà T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  1. Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm bà N, ông D, bà D1, bà A và các Luật sư có mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân và con chung: Bà N, ông D không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, nên cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét.

[3] Xét kháng cáo của ông D yêu cầu chia phần đất diện tích 10.350m² (đo đạc thực tế diện tích 8.542,7m²), tại thửa 155, tờ bản đồ số 07 và yêu cầu nhận nhà, đất hoàn lại giá trị cho bà N.

  1. Xét kháng cáo của ông D không đồng ý chia phần đất, theo ông D xác định phần đất có nguồn gốc của cha ông cho riêng ông năm 2000 và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/12/2000, đến năm 2019 do ông thiếu nợ nhiều người nên ngày 27/8/2019 ông ký hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng phần đất nêu trên lại cho bà N và bà N đã làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 10/9/2019 bà N được ghi bổ sung biến động vào trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay ông xác định phần đất này vẫn là tài sản chung vợ chồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù ông D, bà N xác định chung sống từ năm 1996, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông D thể hiện phần đất do cha ông Dợn tặng cho và ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/12/2000, đến ngày 22/11/2011 ông D, bà N mới đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, căn cứ Điều 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì hôn nhân của ông D, bà N được pháp luật công nhận từ ngày 22/11/2011, căn cứ khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng; nên có căn cứ xác định phần đất diện tích 10.350m² (đo đạc thực tế diện tích 8.542,7m²), tại thửa 155, tờ bản đồ số 07 là tài sản riêng của ông D, đến ngày 27/8/2019 ông D ký hợp đồng tặng cho toàn bộ phần đất nêu trên cho bà N, đến ngày 10/9/2019 bà N được ghi tên vào trang biến động sau khi được cấp giấy, nên có căn cứ xác định phần đất tranh chấp diện tích 10.350m² (đo đạc thực tế diện tích 8.542,7m²), tại thửa 155, tờ bản đồ số 07 là tài sản riêng của bà N, cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của ông D yêu cầu chia phần đất nêu trên là có căn cứ, cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo phần này của ông D.

  1. Xét kháng cáo của ông D yêu cầu nhận nhà, đất hoàn lại giá trị cho bà N. Hội đồng xét xử xét thấy, như đã phân tích phần đất ông D2 yêu cầu chia là tài sản riêng của bà N, cấp sơ thẩm chia nhà và giao nhà cho bà N quản lý, sử dụng là có căn cứ, phù hợp pháp luật, nên cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo này của ông D.

[4] Xét kháng cáo của bà N không đồng ý chia ½ giá trị căn nhà cho D và yêu cầu chia đôi các khoản nợ của bà D1, bà L và bà T1.

  1. Xét kháng cáo của bà N không đồng ý chia ½ giá trị căn nhà, theo bà xác định căn nhà do bà tự cất ông D không cùng bỏ tiền vào để xây dựng nhà. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa bà và ông D được pháp luật thừa nhận từ ngày 22/11/2011, căn nhà được xây dựng năm 2015, theo khoản 1, khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng; Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung", theo đó bà N xác định căn nhà là tài sản riêng thì bà N phải có nghĩa vụ chứng minh, trong quá trình tố tụng bà N không đưa ra được chứng cứ xác thực căn nhà do bà tự bỏ tiền ra xây dựng, nên cấp sơ thẩm chia và buộc bà N hoàn lại cho ông D ½ giá trị theo kết quả định giá là có căn cứ, cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo này của bà N.
  2. Xét kháng cáo của bà N yêu cầu xác định các khoản nợ của bà D1, bà L và bà T1 là nợ chung vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, khoản nợ của các chủ nợ được hình thành trong thời gian hôn nhân đang tồn tại, tại phiên toà bà D1 xác định khi làm chủ hụi bà N đi gom hụi ông D có chở bà N đi gom hụi và ông D xác định từ năm 2019, ông và bà N làm ra tiền tự chi tiêu, bà N là người lo toan mọi việc ăn uống, sinh hoạt của các con. Do đó, có căn cứ xác định các khoản nợ của bà D1, bà L, bà T1 là nợ chung, cấp sơ thẩm buộc bà N trả là chưa phù hợp, nên có căn cứ chấp nhận phần kháng cáo này của bà N, sửa phần này của bản án sơ thẩm, buộc ông D cùng với bà N có trách nhiệm giao trả các khoản nợ cho bà D1, bà L và bà T1.

[5] Xét đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N, ông D. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N có căn cứ một phần đối với các khoản nợ của bà D1, bà T1 và bà L, nên được chấp nhận một phần, đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D không có căn cứ, nên không được chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà N đối với các khoản nợ của bà D1, bà L và bà T1, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm, mặc dù các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, nhưng việc chấp nhận phần kháng cáo của bà N đối với các khoản nợ của bà L, bà D1 và bà T1 làm thay đổi trách nhiệm dân sự của bà N, nên cần sửa phần án phí dân sự của bà N và ông D theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông D phải chịu 300.000 đồng, bà N không phải chịu.

[9] Các phần quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Cà Mau không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn D, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Huỳnh Thị N, sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Cà Mau.

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; các Điều 264, 266, 267, 271, 273, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 28, 30, 33, 38, 43, 44, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 59, 60, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị N đối với ông Võ Văn D.

    Xử cho bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1979 được ly hôn với ông Võ Văn D, sinh năm 1975.

  2. Về nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D xác định các con đã trưởng thành, không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung:
    • + Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung của ông Võ Văn D.

      • Chia cho ông Võ Văn D ½ giá trị căn nhà cấp 4 và các công trình phụ xung quanh căn nhà (mái che, hồ nước ...), bằng số tiền 246.109.400 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu, một trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng).

      • Chia cho bà Huỳnh Thị Ngọc ½ giá trị căn nhà cấp 4 và các công trình phụ xung quanh căn nhà (mái che, hồ nước ...), bằng số tiền 246.109.400 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu, một trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng) và giao cho bà Huỳnh Thị N được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng căn nhà và các công trình phụ nêu trên.

      • Buộc bà Huỳnh Thị N có trách nhiệm hoàn trả cho ông Võ Văn D số tiền 246.109.400 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu, một trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng) ông Võ Văn D được chia.

    • + Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của ông Võ Văn D đối với phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 10.350m² (theo đo đạc diện tích 8.542,7m²), thuộc thửa số 155, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại: khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau.

  4. Về nợ chung:
    1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần S1. Buộc bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D cùng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vốn vay và tiền lãi tính đến ngày 09/9/2025 số tiền 501.514.914 đồng (Năm trăm lẻ một triệu, năm trăm mười bốn nghìn, chín trăm mười bốn đồng), (trong đó: Tiền vốn vay số tiền 330.000.000 đồng, lãi trong hạn và quá hạn số tiền 171.514.914 đồng).

    Từ ngày 10/9/2025 ông Võ Văn D và bà Huỳnh Thị N còn phải tiếp tục chịu lãi với mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1.

    Trường hợp ông Võ Văn D, bà Huỳnh Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 10.350m² (diện tích theo đo đạc là 8.542,7m²), thửa số 155, tờ bản đồ số 07, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 089860, số vào sổ 02552 do UBND huyện C cấp ngày 14/12/2000 đã được chỉnh lý tại trang 04 sang tên bà Huỳnh Thị N ngày 10/9/2019; phần đất tọa lạc tại: khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau, theo hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 10854203.1.1 được Công chứng tại phòng C3 tỉnh Cà Mau ngày 14/01/2020, số công chứng 0342, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 14/01/2020.

    1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Võ Kiều D1, buộc bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D cùng có trách nhiệm trả cho bà Võ Kiều D1 số tiền hụi và tiền mượn còn nợ 163.500.000 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu, năm trăm nghìn đồng).
    2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tô Thị L, buộc bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D cùng có trách nhiệm trả cho bà Tô Thị L số tiền hụi còn nợ 104.000.000 đồng, (Một trăm lẻ bốn triệu đồng).
    3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thanh T1, buộc bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn D cùng có trách nhiệm trả cho bà Trần Thanh T1 số tiền hụi còn nợ 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện việc trả số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải trả thêm tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí chia tài sản chung, phúc thẩm và chi phí tố tụng:
    1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí chia tài sản bà Huỳnh Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

      Án phí chia tài sản và án phí dân sự có giá ngạch bà Huỳnh Thị N phải chịu nộp là 29.924.674 đồng (Hai mươi chín triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi bốn đồng), bà Huỳnh Thị N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008455 ngày 12/10/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4), tỉnh Cà Mau được đối trừ, bà Huỳnh Thị N còn phải nộp tiếp số tiền 29.624.674 đồng (Hai mươi chín triệu, S trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi bốn đồng).

      Án phí chia tài sản và án phí dân sự có giá ngạch ông Võ Văn D phải nộp 29.924.674 đồng (Hai mươi chín triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi bốn đồng), ông Võ Văn D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 10.875.000 đồng (Mười triệu tám trăm bảy mươi năm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008569 ngày 14/11/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4), tỉnh Cà Mau được đối trừ, ông Võ Văn D còn phải nộp thêm số tiền 19.049.674 đồng (Mười chín triệu, không trăm bốn mươi chín nghìn, sáu trăm bảy mươi bốn đồng).

      Ngân hàng thương mại cổ phần S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng thương mại cổ phần S1 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 8.200.000 đồng (Tám triệu, hai trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008682 ngày 21/12/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4), tỉnh Cà Mau được hoàn lại đủ.

      Bà Võ Kiều D1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà D1 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 2.044.000 đồng (Hai triệu, không trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013631 ngày 01/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4), tỉnh Cà Mau được hoàn lại đủ.

      Bà Tô Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

      Bà Trần Thanh T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Trần Thanh T1 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 875.000 đồng (T3 trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009161 ngày 26/5/2023 và lai thu số 0019266 ngày 06/3/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4), tỉnh Cà Mau được hoàn lại đủ.

    2. Về chi phí tố tụng số tiền 38.940.640 đồng (Ba mươi tám triệu, chín trăm bốn mươi nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng), ông Võ Văn D phải chịu toàn bộ, ông Võ Văn D đã nộp xong.
    3. Án phí dân sự phúc thẩm:

      Bà Huỳnh Thị N không phải chịu án phí, bà Huỳnh Thị N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001180 ngày 07/10/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, tỉnh Cà Mau được hoàn lại đủ.

      Ông Võ Văn D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), ông Võ Văn D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001214 ngày 08/10/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà PT TANDTC tại Tp. HCM;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - TAND Khu vực 4;
  • - Phòng THADS Khu vực 4;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 01/2026/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger