|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST Ngày: 08/01/2026 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Luận
2. Ông Trần Minh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/05/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 12/12/2000. HKTT: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn T, xã P, tỉnh Bắc Ninh). Hiện trú tại: Nhật Bản.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài N, sinh ngày 15/9/1998. HKTT: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn T, xã P, tỉnh Bắc Ninh). (Các đương sự đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Hoài N và đăng ký kết hôn ngày 11/10/2015 tại UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 2/2023, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, tranh cãi. Nguyên nhân là do vợ chồng không tin tưởng nhau dẫn đến tình cảm không còn, vợ chồng sống không can thiệp vào cuộc sống của nhau. Tháng 3/2024, chị sang lao động tại Nhật Bản, từ đó đến nay vợ chồng không sống gần nhau, không liên lạc và không còn tình cảm với nhau. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
- Con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/11/2022. Khi ly hôn chị xin nuôi cháu H và không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, công nợ: Không có.
Chị T đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn anh Nguyễn Hoài N đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc nhiều lần, nhưng anh N không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh N và tiến hành ghi lời khai của ông Nguyễn Bá K, ông K trình bày: Cháu N sau khi cưới cháu T thì vẫn ở nhà ông, hiện nay cháu N đang làm việc ở Nghệ An vẫn thường xuyên về nhà ông và liên lạc với ông, cháu N thường về nhà ông vào cuối tuần.
Theo ông K được biết, năm 2022 cháu T và cháu N kết hôn và ở nhà ông từ đó đến nay. Cháu T và cháu N có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/11/2022. Nay liên quan đến việc ly hôn của các cháu thì ông không can thiệp, nếu Tòa án xử ly hôn thì ông đồng ý về nuôi cháu H trong thời gian cháu T ở nước ngoài.
Tại phiên toà nguyên đơn là chị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị Thu T, xử cho chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Hoài N. Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/11/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Nguyễn Thị Thu T đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hoài N và đề nghị giải quyết phần con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
- Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Nguyễn Hoài N có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn T, xã P, tỉnh Bắc Ninh); nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu T hiện đang ở Nhật Bản. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Hoài N trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh N đều không gửi văn bản cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
[2] Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Hoài N có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Đây là hôn nhân hợp pháp và được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 2/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng mất lòng tin với nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Tháng 3/2024, chị T đi lao động tại Nhật Bản, vợ chồng sống ly thân và không liên lạc với nhau.
Hội đồng xét xử thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với thực tế mâu thuẫn vợ chồng nên được chấp nhận.
- Con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/11/2022. Khi ly hôn, chị T xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, hiện cháu H đang ở cùng bố mẹ đẻ chị T, ông K cũng cam kết vợ chồng ông sẽ chăm sóc cháu H trong thời gian chị T đang ở nước ngoài. Do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết, cần giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Hoài N.
- Con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/11/2022 cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ: Không giải quyết.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0002018 ngày 21/5/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh (nay là Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - THADS tỉnh Bắc Ninh; - Các đương sự; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ. |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 01/2026/HNGĐ-ST ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 01/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn anh Nguyễn Hoài N
