Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06/01/2026
V/v ly hôn giữa bà P với ông V
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Thắm

Ông Lê Phú Chánh Thể

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 96/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng P, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: Số D T, phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: Số D T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); hiện đang tạm trú: A26/30 MI 6 Quốc lộ E, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Lâm Dương V, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số E, ấp B, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long).

Bà P và ông V vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2025, lời trình bày trong quá trình tố tụng, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 17/10/2025, nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng P trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Lâm Dương V tự nguyện kết hôn vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2005 tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên bà đã dọn ra ngoài sinh sống từ năm 2023 và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Đến đầu năm 2025, bà có nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông V. Khi Tòa án giải quyết, bà đã rút lại đơn ly hôn để vợ chồng có thêm thời gian hàn gắn. Tuy nhiên, thời gian qua giữa bà và ông V vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

Bà có công việc và thu nhập ổn định nên bà không yêu cầu xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung: Bà và ông V có 03 con chung tên Lâm Tuyết N, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006; Lâm Tuyết N1, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006; Lâm Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2011. Sau khi ly hôn, bà đồng ý cho ông V được trực tiếp nuôi con chung tên Tuyết L, bà không cấp dưỡng nuôi con. Riêng 02 con chung tên Tuyết N và Tuyết N1 đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà và ông V không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông V không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Mâu thuẫn giữa bà và ông V không thể hàn gắn. Do bà bận công việc làm ăn, không thể đến Tòa giải quyết vụ án nên bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án. Bà cam kết không khiếu nại về sau.

Bị đơn ông Lâm Dương V trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, văn bản tố tụng nhiều lần, hồ sơ khởi kiện photo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông V đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của ông V.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật, riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P, cho bà P ly hôn với ông V. Về con chung, đề nghị giao con chung tên Lâm Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2011 cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng; ông V không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận; riêng con chung tên Lâm Tuyết N, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006 và Lâm Tuyết N1, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006 đều đã trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung bà P khai là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà Bùi Thị Hồng P và ông Lâm Dương V là tranh chấp về ly hôn, về nuôi con chung. Bị đơn ông V cư trú tại xã H, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng bị đơn ông V vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông V vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2; bà P xin vắng mặt trong vụ án. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà P và ông V.

[2] Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng P và ông Lâm Dương V kết hôn vào năm 2005, hôn nhân do ông bà tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 18/3/2005 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Bà P xác định, trong thời gian vợ chồng chung sống ông bà có bất đồng về quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung; mâu thuẫn kéo dài nhưng ông bà vẫn không khắc phục được nên từ năm 2023 đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Đến nay, bà P xác định quan hệ hôn nhân giữa bà và ông V không thể kéo dài nên cương quyết xin ly hôn. Theo kết quả thu thập chứng cứ trong quá trình tố tụng có căn cứ xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà P và ông V đang tồn tại, mâu thuẫn kéo dài nhưng ông bà không khắc phục được; đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông V không đến tham gia phiên hòa giải, không đến tham gia phiên tòa; điều đó cho thấy ông V không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà P và ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P.

[3] Về con chung: Bà P và ông V có 03 người con chung tên Lâm Tuyết N, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006; Lâm Tuyết N1, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006 và Lâm Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2011. Sau khi ly hôn, bà P giao con chung tên Tuyết L cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân thì ông V là người trực tiếp nuôi con chung. Hơn nữa, con chung Lâm Tuyết L cũng có nguyện vọng sống cùng ông V. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cho ông V được trực tiếp nuôi con chung tên Lâm Tuyết L là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do ông V vắng mặt trong quá trình tố tụng, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông V về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Tòa án không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bà P. Riêng con chung tên Lâm Tuyết N và Lâm Tuyết N1 thì bà P xác định đều đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P khai bà và ông V không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, ông V vắng mặt trong quá trình tố tụng, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông V về phần tài sản chung và nợ chung. Do đó, Tòa án không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

[5] Về án phí: Bà P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

[6] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, 207, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Hồng P ly hôn với ông Lâm Dương V.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Lâm Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2011 cho ông Lâm Dương V trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc ông V không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung tên Lâm Tuyết N, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006 và Lâm Tuyết N1, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
  3. Bà P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Bùi Thị Hồng P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004820 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Chi nhánh án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà P đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Bà P và ông V vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 7 - Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- UBND phường Phú Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Nguyễn Thị Ngọc Huyền
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 01/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger