|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK Bản án số: 01 /2026/HNGĐ-ST Ngày: 06/01/2026 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Lương Văn Cang
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Vũ Trang Nhi - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Trầm- Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 214/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim M sinh năm 2000
Trú tại: khu phố N, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Anh Đoàn Quốc T, sinh năm 1998
Trú tại: khu phố V, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ- Bộ C.
Các đương sự đều có đơn xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Đoàn Quốc T tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/12/2020. Thời gian đầu, vợ chồng chúng tôi sống thuận hòa, hạnh phúc; sau đó thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Đoàn Quốc T
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có một con chung cháu Đoàn Gia H, sinh ngày 23/8/2021. Khi ly hôn, tôi đề nghị Tòa án giao cháu Đoàn Gia H cho tôi trực tiếp nuôi.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.
* Tại biên bản làm việc ngày 28/11/2025, bị đơn anh Đoàn Quốc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với chị Nguyễn Thị Kim M tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/12/2020. Thời gian đầu, vợ chồng chúng tôi sống thuận hòa, hạnh phúc; sau đó thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị Nguyễn Thị Kim M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với tôi thì tôi (Đoàn Quốc T) đồng ý. Tuy nhiên vì phải chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tôi.
- Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có một con chung cháu Đoàn Gia H, sinh ngày 23/8/2021. Khi ly hôn, tôi (Đoàn Quốc T) thống nhất và đồng ý giao cháu Đoàn Gia H cho chị Nguyễn Thị Kim M trực tiếp nuôi. Tôi (Đoàn Quốc T) được quyền đi lại thăm nom cháu và không được ai cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị M và anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa. Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các đương sự có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M được ly hôn với bị đơn anh Đoàn Quốc T. Giao 01 con chung tên Đoàn Gia H, sinh ngày 23/8/2021 cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M trực tiếp nuôi khi ly hôn. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị M và bị đơn anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị M: Xét, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn chị M giao nộp và trình bày của bị đơn anh T, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Chị M với anh T tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/12/2020. Thời gian đầu, vợ chồng anh chị sống thuận hòa, hạnh phúc; sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn chị M đề nghị được ly hôn với bị đơn anh T. Bị đơn anh T đồng ý ly hôn với chị M. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị M.
[3] Về con chung: Nguyên đơn chị M đề nghị khi ly hôn được trực tiếp nuôi con chung là cháu H và anh T đồng ý giao con chung là cháu H cho chị M trực tiếp nuôi. Xét, hiện nay cháu H hiện còn nhỏ, chị M đang trực tiếp nuôi cháu, anh T hiện phải đang chấp hành án nên giao cháu Đoàn Gia H cho chị Nguyễn Thị Kim M trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn chị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ nên không phải nộp thêm.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15-Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M.
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M được ly hôn với bị đơn anh Đoàn Quốc T
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Đoàn Gia H, sinh ngày 23/8/2021 cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M trực tiếp nuôi khi ly hôn.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003340 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đ nên không phải nộp thêm.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk (01); - VKSND khu vực 11- Đắk Lắk(02); - THADS tỉnh Đắk Lắk (01); - Các đương sự (02); - UBND phường Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk (01); - Lưu HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tâm |
Bản án số 01 /2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk về ly hôn
- Số bản án: 01 /2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn My được ly hôn bị đơn Trưởng
