|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST
Ngày 05/01/2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngữ - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Nguyễn Văn Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Cường – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Linh - KSV
Ngày 05/01/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 173/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về ly hôn, nuôi con chung; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/11/2025, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Nông Thị Hà N, sinh năm 1998;
Trú tại xóm T, xã K, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
+ Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1990;
Trú tại phố V, xã L, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn D kết hôn năm 2021 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn, chị về nhà anh D ở xã L sinh sống.
Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không còn tình cảm, không có sự chia sẻ, không nói chuyện được với nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã. Tháng 1/2025 vợ chồng cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh D.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị An N1 sinh ngày 01/9/2021, hiện đang ở cùng chị. Nay ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tiền cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Vì điều kiện công việc và ở xa, chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh D không đến Toà án làm việc. Qua xác minh tại gia đình và địa phương thì được biết anh D có đăng ký thường trú tại phố V, xã L. Hiện tại anh D không có mặt tại địa phương nhưng vẫn liên lạc với gia đình và thỉnh thoảng có về nhà.
Đại diện VKSND Khu vực 4 tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
* Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải quyết vụ án và của HĐXX tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của BLTTDS.
- Bị đơn không chấp hành pháp luật.
* Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xử cho chị Nông Thị Hà N ly hôn anh Trần Văn D; giao cho chị N tiếp tục nuôi cháu Trần Thị An N1 sinh ngày 01/9/2021. Tiền cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật: Chị N đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Trần Văn D và giải quyết về con chung. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại xã L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Bắc Ninh theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định chị Nông Thị Hà N và anh Trần Văn D kết hôn với nhau năm 2021, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh). Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Quá trình giải quyết vụ án, chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Anh Dũng không đến Toà án làm việc, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, nguyện vọng ly hôn của chị N là chính đáng, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.
[5] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định chị N và anh D có 01 con chung là Trần Thị An N1 sinh ngày 01/9/2021, hiện đang ở cùng chị N, chị N đề nghị được tiếp tục nuôi con chung. Anh Dũng không có văn bản thể hiện quan điểm về nuôi con chung, vì vậy HĐXX giao cho chị N tiếp tục nuôi con chung.
Chị N không đề nghị Toà án giải quyết về tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có đương sự nào yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[7] Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự đều vắng biết được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thị Hà N ly hôn anh Trần Văn D.
- Về con chung: Giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là Trần Thị An N1 sinh ngày 01/9/2021.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Án phí: Chị Nông Thị Hà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001292 ngày 07/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho chị Nông Thị Hà N, anh Trần Văn D biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND KV 4 – Bắc Ninh; - Phòng THADS KV 4 – Bắc Ninh; - UBND xã Lạng Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Ngữ |
Bản án số 01/2026/HNGĐ-ST ngày 05/01/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 4 – Bắc Ninh về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 01/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân Khu vực 4 – Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh D, giải quyết về con chung
