|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 01/2026/HNGĐ-PT Ngày: 07/01/2026 “V/v Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Thẩm phán: Bà Điều Thị Bích Lượt
Ông Phạm Văn Toàn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Phạm Văn Minh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07/01/2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2025/HNGĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn”, giữa:
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 10/2025/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 46/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 12 năm 2025. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy N, sinh năm 1960 (có mặt); Địa chỉ: Khu D, xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1963 (có mặt). Địa chỉ: C, L, phường H, thành phố Hải Phòng. Địa chỉ liên hệ hiện nay: Số A, đường V, phường A, thành phố Hải Phòng.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: Số A, đường V, phường A, thành phố Hải Phòng.
- Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1991 (vắng mặt). Địa chỉ: C, L, phường H, thành phố Hải Phòng. Địa chỉ: Số A, đường V, phường A, thành phố Hải Phòng.
- Ông Nguyễn Việt P, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu A, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Hoàng P1, chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thiện T, chức danh: chuyên viên phòng kinh tế (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn là ông Nguyễn Huy N trình bày: Trước đây, ông N và bà H là vợ chồng. Năm 2004, ông được cụ Nguyễn Văn N1 và cụ Đặng Thị Đ cho 01 thửa đất số 91-2 tờ bản đồ số 15, diện tích 300m2 (loại đất vườn). UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AA 136609 ngày 06/9/2004 ghi hộ ông Nguyễn Huy N. Ông N khẳng định thửa đất trên là do bố mẹ ông cho ông.
Tháng 5/2012, ông N và bà H ly hôn. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tài sản chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại thời điểm đó, ông N và bà H đã thỏa thuận về việc phân chia tài sản. Ông N thanh toán trả cho bà H số tiền là 380.000.000đ. Hai bên cam kết không có tranh chấp bất kể về tài sản công nợ gì sau khi thanh toán xong số tiền trên. Mọi tranh chấp kiện tụng sau này không có giá trị về pháp lý. Ông N đã thanh toán đủ số tiền cho bà H và sử dụng tài sản trên.
Quá trình giải quyết vụ án, ông N đề nghị Tòa án chia tài sản là quyền sử dụng đất (QSDĐ) đối với thửa đất số 91-2 tờ bản đồ số 15, diện tích 300m2 (loại đất vườn) tại khu D, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ, và công nhận đây là tài sản riêng của ông, giao cho ông sử dụng toàn bộ tài sản này vì ông đã thanh toán cho bà H số tiền thỏa thuận phân chia tài sản và đây là tài sản của bố mẹ ông cho riêng ông.
2. Bị đơn bà Vũ Thị H trình bày: Năm 2012 bà và ông Nguyễn Huy N đã ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự số 155/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Về phần tài sản chung trong đó có ghi: “Anh N và chị H tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu tòa án giải quyết”. Ngày 16/5/2012 bà H có ký biên bản cam kết và thỏa thuận do ông N soạn, trong đó cam kết không có tranh chấp gì sau khi ông N chuyển cho bà H 380.000.000 đồng.
Nay ông N kiện bà H tranh chấp tài sản là QSDĐ thửa đất 91-2, GCNQSDĐ số AA 136609, cấp ngày 06/9/2004, diện tích là: 300m2, loại đất: đất vườn lâu dài. Về việc này bà H có ý kiến như sau: Năm 2004 ông Nguyễn Huy N có ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 146/HĐCN ngày 09/7/2004 với bố mẹ chồng bà H là cụ Nguyễn Văn N1 và cụ Đặng Thị Đ, thường trú tại khu S, xã K, nay là xã P, L, Phú Thọ và được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số AA 136609, ngày 06/9/2004, diện tích là: 300m2, loại đất: đất vườn lâu dài, số thửa 91-2, tờ bản đồ số 15, vào sổ cấp GCNQSDĐ số H01446 cho hộ ông Nguyễn Huy N. Thời điểm tháng 9 năm 2004 gia đình (hộ ông Nguyễn Huy N) gồm có: ông N, bà H và 02 con là Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1990 và Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1991. Bà H và ông Nguyễn Huy N đã ly hôn năm 2012. Quyền sử dụng thửa đất số 91-2, tờ bản đồ số 15 là tài sản chung của hộ gia đình bà H chưa phân chia, lý do ông Nguyễn Huy N không nói và bà H không biết bố mẹ chồng bà H tặng cho gia đình bà H bằng hình thức hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 91-2 nói trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Về hình thức đơn kháng cáo của bà Vũ Thị H làm trong luật định, đơn hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tuy nhiên nội dung kháng cáo của bà H liên quan đến đề nghị chia đất cho cả 2 người con là Nguyễn Hoàng S và Nguyễn Thị Hồng V là không đúng. Bởi vì cả anh S và chị V đều tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được nhận bản án nhưng đã không kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi của mình. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét nội dung này.
[2] Xét về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất số 91-2, tờ bản đồ số 15, diện tích 300 m2 đất vườn trước đây có nguồn gốc là một phần diện tích đất nằm trong thửa đất số 91, tờ bản đồ số 15, diện tích 1.608m2 trong đó có 200m2 đất ở và 1.408m2 đất vườn địa chỉ tại xã K (nay là khu D, xã P, tỉnh Phú Thọ) của cụ Nguyễn Văn N1 và cụ Đặng Thị Đ (bố, mẹ đẻ ông N). Ngày 12/7/2004, cụ N1 và cụ Đ đã lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 146/HĐCN cho ông Nguyễn Huy N và bà Vũ Thị H 300m2 đất vườn. Việc ông N cho rằng giữa ông và bà H đã có thỏa thuận về tài sản khi ly hôn năm 2012 trong đó có tài sản đang tranh chấp (QSDĐ cấp năm 2004) vì thế ông nhận các tài sản và thanh toán cho bà H khoản tiền mặt là 380.000.000 đồng, thể hiện tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 155/2012/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì (cũ) có ghi: Về tài sản: Hai bên tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Như vậy, phần tài sản chung của vợ chồng ông N và bà H đang tranh chấp khi ly hôn chưa được Tòa án xem xét, giải quyết.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS. Căn cứ vào khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị H.
Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị H được miễn toàn bộ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT ngày 07/01/2026 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 01/2026/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Huy Nhã - Bà Vũ Thị Hoa
