|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/DS - PT Ngày 06 tháng 01 năm 2026 V/v: Tranh chấp đòi lại giấy biên nhận nợ vay tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Mai Hương và ông Đinh Huy Lưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2025/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại giấy biên nhận nợ vay tiền”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS -ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 126/2025/QĐ - PT ngày 03/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ dân phố số C xã N, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố số C xã N, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Đoàn Thị M, sinh năm 1973; Nơi cư trú: xóm A thôn C, xã N, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày nội dung vụ án như sau:
Khoảng năm 2019 và năm 2020, bà T có gửi một sổ đỏ của gia đình bà và một giấy biên nợ vay tiền mang tên người vay là ông Đoàn Công B, thời gian sau bà T lấy lại sổ đỏ. Nội dung giấy vay tiền là “chú Binh N có nhờ chị T vay hộ hiệu cầm đồ Quang T2 số nhà A H, Nam Định số tiền 100.000.000 đồng” trong thời hạn 12 tháng, nam định ngày 22-11-2018. Người vay ký tên ông Đoàn Công B, bà T1 đã cầm giấy biên nhận vay tiền từ năm 2020 cho đến nay. Hiện nay bà T1 đang quản lý một giấy biên nợ vay tiền mang tên người vay là ông Đoàn Công B của bà. Bà đã đòi rất nhiều lần nhưng bà T1 không trả lại cho bà. Lý do giao giấy biên nhận vay tiền cho bà T1 là thời gian năm 2020, bà làm nhà có gửi văn bản trên cho bà T1 quản lý hộ, bản thân bà không có vay mượn gì đối với bà T1. Giấy biên nhận vay tiền là do bà viết, ông B ở I B, thành phố N cũ là người ký họ tên ở cuối văn bản, dưới phần người vay.
Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 9 giải quyết buộc bà T1 phải trả lại cho bà một giấy biên nợ vay tiền mang tên người vay là ông Đoàn Công B.
Đối với yêu cầu phản tố của bà T1, bà T1 có nộp cho Tòa án một giấy thỏa thuận hợp đồng cam kết. Bà xác nhận là bà có ký vào giấy này nhưng bà ký làm 2 lần đều là “Nguyễn Thị T”. Bà không đồng ý với giấy này vì theo quy định mà bà biết thì 2 lần là không hợp lệ, sai về mặt hành chính nên bà không chấp nhận giấy này.
* Tại bản tự khai, đơn phản tố và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Năm 2019, bà T là chị gái bà đến nhà bà vay 100.000.000 đồng để làm thêm nhà và sửa nhà. Bà đã cho bà T vay 100.000.000 đồng do mối quan hệ chị em gái, bà không yêu cầu viết giấy vay đồng thời bà T đưa cho bà “giấy biên nhận vay tiền” ngày 22/11/2017 của bà T cho ông Đoàn Công B trú tại phường N vay số tiền: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) làm căn cứ bảo đảm cho việc vay tiền của bà T. Khi nhận tiền bà T nói mỗi tháng trả cho bà 3.000.000 đồng tiền lãi, bà T đã trả cho bà 2 tháng tổng số tiền 6.000.000 đồng. Đến ngày 15/11/2020 bà T nói với bà làm giấy thoả thuận hợp đồng cam kết T vay thêm của bà 20.000.000 đồng và có trách nhiệm cam kết lấy lại số tiền 100.000.000 đồng của ông Đoàn Công B trả lại cho bà. Khi viết giấy thoả thuận hợp đồng cam kết và giao tiền có bà Đoàn Thị M làm chứng. Bà T là người trực tiếp viết giấy thoả thuận hợp đồng cam kết. Bà có xác nhận là bà cầm tờ giấy của ông Đoàn Công B, bà sẽ trả lại giấy vay tiền gốc cho bà T với điều kiện bà T phải trả số tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
Ngày 23-7-2025, bà làm đơn phản tố đề nghị Toà án quyết định buộc bà: Nguyễn Thị T phải trả lại bà hai khoản số tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
* Người làm chứng là bà Đoàn Thị M trình bày: Ngày 10-7-2025, bà Đoàn Thị M có xác nhận là bà có ký vào giấy thỏa thuận hợp đồng cam kết nhưng việc giao tiền giữa bà T và bà T1 như thế nào thì bà không để ý.
* Tại biên bản lấy lời khai của bà T ngày 16-9-2025, bà T trình bày thêm: Do bà sửa nhà, sợ thất lạc đồ đạc, tin tưởng bà T1 là em ruột nên bà đã gửi giấy biên nhận vay tiền của ông Đoàn Công B và sổ đỏ cho bà T1 cất hộ. Bà T đã lấy lại sổ đỏ nhưng giấy vay tiền của ông B thì bà T1 giữ lại không trả lại cho bà T. Ngoài ra bà T trình bày nội dung “tôi có trách nhiệm lấy lại số tiền của ông B số tiền là 100.000.000 đồng tôi cho vay hộ” là bà không vay nợ bất kỳ số tiền nào của bà T1. Bà xác nhận có ký chữ “T, Nguyễn Thị T” là 20 triệu đồng nhưng do bà ký hai lần nên sai về mặt hình thức, bà đã hủy biên bản này. Vì theo quy định tại thông tư 88 Bộ T4 năm 2008, chứng từ viết tay được nhà nước công nhận là hợp đồng vô hiệu, hai chữ ký là sai văn bản. Bà đề nghị Tòa án và Viện kiểm sát cung cấp cho bà văn bản luật, điều luật nào xác nhận việc ký 02 chữ ký là có hiệu lực.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS -ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình đã quyết định: Căn cứ vào khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điều 200, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 105, 166, 280 Bộ luật Dân sự. Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Điều 2 Luật người cao tuổi.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc bà Nguyễn Thị T1 trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 bản chính giấy biên nợ vay tiền ngày 22-11-2017 mang tên người vay là ông Đoàn Công B.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải thanh toán cho bà T1 số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T1 về việc đòi bà T số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2025 bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS -ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử lại theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T1 đề nghị bà Nguyễn Thị T phải thanh toán cho bà T1 số tiền 20.000.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T trong thời hạn luật định nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp phúc thẩm.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 293, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS -ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe ý Kiểm sát viên phát biểu; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trong thời hạn luật định và đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T không nhất trí trả 20.000.000 đồng cho bà T1 thấy:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định: Khoảng năm 2019 và năm 2020, bà T có gửi bà Nguyễn Thị T1 bản chính giấy biên nợ vay tiền ngày 22-11-2017 mang tên người vay là ông Đoàn Công B. Bà T1 cũng đã thừa nhận bà đang giữ giấy biên nợ vay tiền bản gốc. Như vậy, từ năm 2019 đến nay bà T1 giữ giấy biên nợ vay tiền này là sự việc có thật. Việc bà T1 giữ giấy biên nợ bản gốc của bà T là không đúng quy định của pháp luật, cản trở việc thực hiện quyền của và T. Vì vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T: Buộc bà Nguyễn Thị T1 trả lại cho bà Nguyễn Thị T bản chính 01 giấy biên nợ vay tiền ngày 22-11-2017 mang tên người vay là ông Đoàn Công B là có căn cứ đúng pháp luật.
Do bà T1 chưa trả cho bà T giấy biên nợ vay tiền là vì bà T1 cho rằng hiện nay bà T còn vay của bà hai khoản tiền với tổng số tiền là 120.000.000 đồng. Cụ thể: Đối với số tiền 100.000.000 đồng mà bà T1 cho bà T vay để bà T sửa nhà. Bà T1 trình bày năm 2019, bà T có nói bà T sửa nhà nhưng bà T đang cho người khác vay tiền chưa trả cho bà T nên bà T có hội vay bà T1 100.000.000 đồng, bà T có trả cho bà T1 2 tháng tiền lãi là 6.000.000đồng. Do là chị em và lúc bấy giờ còn tình cảm, tin tường nhau nên bà T1 không viết giấy biên nhận và cũng không lập văn bản gì. Đến ngày 15-11-2020 bà T nói với bà làm giấy thoả thuận hợp đồng cam kết T vay thêm của bà 20.000.000 đồng. Bà T có đưa cho bà T1 giấy vay nợ gốc của ông Đoàn Công B nhờ bà T vay hộ 100.000.000 đồng để làm tin. Việc này bà T1 có xuất trình cho Tòa án: một giấy biên nhận vay tiền đề ngày 22/11/2017 có nội dung “chú Binh N có nhờ chị T vay hộ hiệu cầm đồ Quang T2 số nhà A H, Nam Định số tiền là 100.000.000 đồng, thời hạn 12 tháng, người vay ký tên Đoàn Công B"; một giấy thỏa thuận hợp đồng cam kết đề ngày 15/11/2020 có nội dung “tôi nhận của bà T1 20.000.000 đồng, tôi có trách nhiệm lấy lại số tiền của ông B 100.000.000 đồng tôi cho vay hộ, người viết hợp đồng ký tên Nguyễn Thị T, người ký hợp đồng và giao tiền ký Nguyễn Thị T1, người làm chứng ký Đoàn Thị M”. Bà T1 xuất trình hai giấy này để chứng minh cho việc bà T1 cho bà T vay 100.000.000 đồng để sửa nhà và khoản vay thêm 20.000.000 đồng nay bà T phải đối trừ cho bà T1. Tuy nhiên, tài liệu này bà T1 xuất trình không có căn cứ chứng minh được việc bà T1 cho bà T vay số tiền 100.000.000 đồng để sửa nhà vào năm 2019.
Đối với khoản vay 20.000.000 đồng vào ngày 15-11-2020. Khi viết giấy thoả thuận hợp đồng cam kết và giao tiền có bà Đoàn Thị M làm chứng. Bà T là người trực tiếp viết giấy thoả thuận hợp đồng cam kết. Ngoài ra, bà T cũng xác nhận việc bà T ký vào tờ giấy “giấy thỏa thuận hợp đồng cam kết” là đúng. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu bà T phải trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng là có căn cứ.
Bà T trình bày việc bà viết, ký chữ ký hai lần chữ “T, Nguyễn Thị T”; vào tờ giấy “giấy thỏa thuận hợp đồng cam kết” nên bà đã hủy biên bản này nhưng không biết vì sao bà T1 lại có và xuất trình cho T3, nay bà đề nghị Tòa án căn cứ vào Thông tư số của 88 Bộ T4 - Công thương năm 2008, để xác định việc bà ký hai lần vào một văn bản là vô hiệu, sai theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét thấy việc bà T trình bầy trên là không có căn cứ. Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thúy B1 bà Nguyễn Thị T phải trả bà T1 số tiền 20.000.000 đồng vay vào ngày 15/11/2020 là phù hợp. Bà T kháng cáo nhưng không đưa ra căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình và cũng không có căn cứ làm phát sinh tình tiết mới. Do vậy yêu cầu kháng cáo của bà T không có căn cứ chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS -ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T không phải nộp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn lại phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA |
Nơi nhận:
- - TAND tối cao;
- - VKSND tỉnh Ninh Bình;
- - TAND khu vực 9;
- - THADS tỉnh Ninh Bình;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ, VP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn San |
Bản án số 01/2025/DS - PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp đòi lại giấy biên nhận nợ vay tiền
- Số bản án: 01/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại giấy biên nhận nợ vay tiền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v: Tranh chấp đòi lại giấy biên nhận nợ vay tiền”
