Thông tư liên tịch 05/TTLN được ban hành năm 1993 bởi Toà án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp nhằm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, đặc biệt là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong giai đoạn đầu của tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với các cơ quan quản lý tòa án địa phương, Tòa án nhân dân các cấp, các cơ quan tư pháp có liên quan, cùng toàn thể Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đang công tác hoặc được quy hoạch, tuyển chọn vào các vị trí xét xử trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Các quy định cốt lõi về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Tiêu chuẩn tuyển chọn Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
- Tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị: Người được tuyển chọn làm Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân phải có lòng yêu nước, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn: Phải có kiến thức pháp lý cần thiết và năng lực thực tế để thực hiện nhiệm vụ xét xử. Đối với Thẩm phán, yêu cầu về bằng cấp chuyên môn luật và chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ xét xử được quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng phán quyết.
- Tiêu chuẩn về sức khỏe và độ tuổi: Đảm bảo các điều kiện về thể chất và độ tuổi lao động theo quy định để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ xét xử thường xuyên tại tòa án.
Quy trình, thủ tục tuyển chọn và đề nghị bổ nhiệm
- Xác định nhu cầu biên chế: Việc tuyển chọn phải căn cứ vào nhu cầu thực tế về số lượng Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân của từng cấp tòa án, tránh tình trạng thừa thiếu cục bộ.
- Thành lập Hội đồng tuyển chọn: Quy định cơ cấu, thành phần của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán bao gồm đại diện của Tòa án nhân dân, Bộ Tư pháp (hoặc Sở Tư pháp địa phương) và các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm bảo đảm tính khách quan, dân chủ.
- Hồ sơ và thủ tục xét duyệt: Quy định chi tiết các loại giấy tờ, lý lịch, nhận xét của cơ quan nơi công tác và quy trình thẩm định hồ sơ trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm.
Trách nhiệm và nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
- Nghĩa vụ tôn trọng nhân dân: Khi thực hiện nhiệm vụ, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải gần gũi, lắng nghe ý kiến của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Nghĩa vụ giữ gìn bí mật công tác: Tuyệt đối giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác xét xử và các thông tin liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.
- Nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ: Thường xuyên tự trau dồi kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử và cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới để đáp ứng yêu cầu công việc.
Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch 05/TTLN năm 1993 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, Tòa án nhân dân địa phương và các cơ quan tư pháp liên quan có trách nhiệm báo cáo về Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp để kịp thời giải quyết.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP-TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/TTLN | Hà Nội , ngày 15 tháng 10 năm 1993 |
Để thực hiện đúng các quy định của Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân được uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 5 năm 1993;
Sau khi trao đổi với văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Quốc phòng, Toà án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau đây:
1- Theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh về thẩm phán và Hội thẩm toà án nhân dân thì: "Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 8 năm 1993"; do đó, kể từ ngày 15 tháng 8 năm 1993, công dân Việt Nam để có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án cấp nào thì phải có đầy đủ các tiêu chuẩn mà Pháp lệnh quy định đối với Thẩm phán Toà án cấp đó. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 37/UBTVQH 9 ngày 14 tháng 5 năm 1993 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội "quy định một số điểm về việc thi hành Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân" cần phân biệt các trường hợp sau:
a) Đối với những người hiện tại không phải là Thẩm phán, để có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án cấp nào, thì phải có đủ các tiêu chuẩn mà Pháp lệnh quy định đối với Thẩm phán Toà án cấp đó.
b) Đối với những Thẩm phán đương nhiệm chưa đủ thời gian làm công tác pháp luật, chưa có trình độ cao đẳng Toà án hoặc đại học Luật, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác mà Pháp lệnh quy định đối với Thẩm phán Toà án cấp họ đượng nhiệm là Thẩm phán, thì vẫn có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm lại làm Thẩm phán Toà án cấp đó. Trong nhiệm kỳ được bổ nhiệm lại, những Thẩm phán chưa có đủ trình độ cao đẳng Toà án hoặc đại học luật phải học tập để đạt trình độ đại học luật; nếu không thì không được tuyển chọn và bổ nhiệm lại làm Thẩm phán trong nhiệm kỳ tiếp theo. Chánh án toà án có Thẩm phán vừa được bổ nhiệm lại, nhưng còn thiếu tiêu chuẩn về trình độ Cao đẳng Toà án hoặc đại học luật có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng bố trí thời gian, tạo điều kiện cho Thẩm phán đi học để nâng cao trình độ đại học luật.
2. Tiêu chuẩn "có sức khoẻ bảo đảm cho hoàn thành nhiệm vụ được giao" quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh cần được hiểu là ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó là không dị tật, đị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán.
3. Những người sau đây được coi là không đủ tiêu chuẩn "có phẩm chất, đạo đức tốt":
- Người đã bị kết án về tội cố ý, không phụ thuộc vào việc đã được xoá án hay chưa được xoá án;
- Người đã bị kết án về tội vô ý, nhưng chưa được xoá án;
- Người có hành vi vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức gây ảnh hưởng xấu hoặc mất uy tín trong quần chúng, nhân dân;
- Người có người thân thích, ruột thịt như cha, mẹ, vợ, chồng, con cùng sống chung trong gia đình mà họ có những việc làm vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có hệ thống.
Theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh: "Hội đồng tuyển chọn thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm có Giám đốc Sở Tư pháp làm Chủ tịch, đại diện Hội đồng nhân dân, Toà án nhân dân, ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ban chấp hành Hội luật gia tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là uỷ viên.
Danh sách các uỷ viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp sau khi thống nhất ý kiến với Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương".
Pháp lệnh không quy định cụ thể người nào có thể đại diện, nhưng theo tinh thần chung thì người đại diện phải là một trong những người lãnh đạo của các cơ quan, tổ chức nói trên. Do đó, Giám đốc Sở Tư pháp phải có công văn gửi cho các cơ quan, tổ chức nói trên yêu cầu cử một trong những người lãnh đạo sau đây tham gia hội đồng tuyển chọn Thẩm phán:
- Đại diện của Hội đồng nhân dân là một thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc Trưởng ban hay Phó ban Ban pháp chế của Hội đồng nhân dân.
- Đại diện của Toà án nhân dân là Chánh án hoặc Phó chánh án;
- Đại diện của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc là một thành viên của Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc;
- Đại diện của Ban chấp hành hội luật gia là một thành viên của Thường vụ Ban chấp hành Hội luật gia. Nơi nào chưa thành lập Hội luật gia thì tạm thời không có đại diện của Ban chấp hành Hội luật gia tham gia hội đồng tuyển chọn thẩm phán. Khi nào Hội luật gia được thành lập thì Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định bổ sung đại diện của Ban chấp hành Hội luật gia làm uỷ viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán.
Trong trường hợp Trưởng ban hay Phó trưởng ban pháp chế của Hội đồng nhân dân hoặc thành viên của Thường vụ Ban chấp hành Hội luật gia... là lãnh đạo của Sở Tư pháp, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì họ không được cử tham gia hội đồng tuyển chọn Thẩm phán.
Sau khi có quyết định của cơ quan, tổ chức nói trên về việc cử người tham gia Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán, Giám đốc Sở Tư pháp cần kịp thời trao đổi ý kiến với Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; nếu thấy người được cử tham gia Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán không đúng thành phần hướng dẫn nói trên hoặc có vấn đề cần được xem xét lại (như đang còn kỷ luật hay có dư luận không tốt), thì Giám đốc Sở Tư pháp cần trao đổi ý kiến với tập thể lãnh đạo cơ quan đã cử người đó và đề nghị xem xét lại. Sau khi đã có sự thống nhất ý kiến thì Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị danh sách các uỷ viên lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định. Trong trường hợp có ý kiến khác nhau thì Giám đốc Sở Tư pháp, Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo ý kiến của mình lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp để xem xét, quyết định.
III. THỦ TỤC TUYỂN CHỌN VÀ TRÌNH CHỦ TỊCH NƯỚC BỔ NHIỆM LÀM THẨM PHÁN
1. Hồ sơ của người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán gồm có các giấy tờ sau đây:
- Một bản sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan quản lý hồ sơ, lý lịch gốc của người đó.
- Một đơn xin tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán theo mẫu do Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân tối cao quy định;
- Các bản sao văn bằng, các chứng chỉ về trình độ chuyên môn pháp luật, trình độ lý luận chính trị và các chứng chỉ khác (nếu có) liên quan đến việc tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán. Các bản sao này đều có chứng thực của công chứng Nhà nước hoặc cơ quan nơi người đó công tác.
- Nhận xét đối với người xin được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán của cơ quan nơi người đó công tác theo các tiêu chuẩn đối với Thẩm phán đưọc quy định tại Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân.
2. Việc chuẩn bị hồ sơ của người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, kể cả việc lấy ý kiến của cấp uỷ cùng cấp, do Sở Tư pháp đảm nhiệm có sự phối hợp chặt chẽ với Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Việc chuẩn bị hồ sơ của người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kể cả việc lấy ý kiến của cấp uỷ cùng cấp, do Bộ Tư pháp đảm nhiệm có sự phối hợp chặt chẽ với Toà án nhân dân tối cao.
Việc chuẩn bị hồ sơ của người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực, kể cả việc lấy ý kiến của Đảng uỷ Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương do Bộ Quốc phòng đảm nhiệm có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao.
3. Việc tuyển chọn người để bổ nhiệm làm Thẩm phán được tiến hành đối với từng người một và theo trình tự: một thành viên của hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trình bày các tài liệu có trong hồ sơ của người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán; căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, các thành viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán phát biểu ý kiến của mình về việc người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phánvà Hội thẩm Toà án nhân dân hay không; Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán biểu quyết công khai bằng cách giơ tay; quyết định của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên của hội đồng biểu quyết tán thành.
Thành viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Nhà nước nếu không đồng ý với ý kiến đa số của hội đồng có quyền bảo lưu ý kiến của mình và ý kiến bảo lưu, lý do bảo lưu phải được ghi rõ vào biên bản.
Việc trình Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán được tiến hành như sau:
a. Danh sách những người được hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thẩm phán Toà án quân khu và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực tuyển chọn, do Bộ trưởng Bộ Tư pháp -Chủ tịch hội đồng tuyển chọn trình Chủ tịch nước bổ nhiệm. Kèm theo tờ trình là hồ sơ của người được Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán đã tuyển chọn, bản sao biên bản phiên họp tuyển chọn Thẩm phán của hội đồng.
b. Đối với những người Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tuyển chọn, thì Giám đốc Sở Tư pháp -Chủ tịch hội đồng tuyển chọn báo cáo kết quả việc tuyển chọn bắng văn bản gửi cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp để Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất với Chánh án Toà án nhân dân tối cao trình Chủ tịch nước bổ nhiệm. Kèm theo báo cáo kết quả việc tuyển chọn Thẩm phán của hội đồng.
Sau khi nhận được báo cáo kết quả việc tuyển chọn Bộ trưởng Bộ Tư pháp trao đổi ý kiến với Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Nếu có trưqờng hợp nào mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thấy cần thiết yêu cầu Hội đồng tuyển chọn xem xét lại hoặc làm rõ, thì Hội đồng tuyển chọn có trách nhiệm thực hiện yêu cầu đó. Trong trường hợp Hội đồng tuyển chọn vẫn giữ ý kiến của mình, thì nêu lý do và Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao sẽ trình ý kiến của mình về trường hợp đó với Chủ tịch nước.
1. Đối với Thẩm phán vi phạm kỷ luật không còn đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán, thì hồ sơ đề nghị Chủ tịch nước cách chức gồm có các giấy tờ sau đây:
- Bản tự kiểm điểm của Thẩm phán;
- Biên bản của Hội đồng kỷ luật cơ quan nơi Thẩm phán công tác.
2. Việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị cách chức Thẩm phán đối với Thẩm phán Toà án nào do Chánh án Toà án đó đảm nhiệm. Sau khi chuẩn bị xong thì hồ sơ đề nghị cách chức Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực được gửi đến Bộ Tư pháp; hồ sơ đề nghị cách chức Thẩm phán Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh được gửi đến Sở Tư pháp.
Việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị cách chức Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ Tư pháp đảm nhiệm; việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị cách chức Chánh án Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực do Bộ quốc phòng đảm nhiệm và việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị cách chức Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Sở Tư pháp đảm nhiệm.
3. Việc xét và trình Chủ tịch nước cách chức Thẩm phán được thực hiện theo thủ tục và trình tự như việc tuyển chọn và trình Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phánhướng dẫn tại Mục III của Thông tư này.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Trong quá trình thực hiện Thông tư này nếu có gì vướng mắc, thì các cơ quan hữu quan báo cáo để Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc giải quyết.
| Nguyễn Đình Lộc (Đã ký) | Phạm Hưng (Đã ký) |
- 1Quyết định 241/QĐ-BTP-2007 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp ban hành và Liên tịch ban hành từ năm 1981 đến nay hết hiệu lực do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 2Quyết định 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013
- 1Quyết định 241/QĐ-BTP-2007 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp ban hành và Liên tịch ban hành từ năm 1981 đến nay hết hiệu lực do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 2Quyết định 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013
Thông tư liên tịch 05/TTLN năm 1993 hướng dẫn Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân do Toà án nhân dân tối cao- Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 05/TTLN
- Loại văn bản: Thông tư liên tịch
- Ngày ban hành: 15/10/1993
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Đình Lộc, Phạm Hưng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/10/1993
- Ngày hết hiệu lực: 11/10/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
