Thông tư 51-TTg năm 1960 do Phủ Thủ tướng ban hành nhằm giải thích tinh thần và hướng dẫn thi hành Bản Điều lệ Hải quan (được ban hành kèm theo Nghị định số 03-CP ngày 27 tháng 01 năm 1960). Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý nhà nước về hải quan, bảo vệ nền sản xuất nội địa và thực hiện chính sách độc quyền ngoại thương trong giai đoạn đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của văn bản
Thông tư áp dụng đối với các cơ quan hải quan các cấp, các lực lượng vũ trang tuần tra biên giới, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện hoạt động ngoại thương, cùng mọi tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa hoặc xuất nhập cảnh qua biên giới, cửa khẩu, hải cảng và sân bay quốc tế.
Tinh thần cốt lõi và các nội dung trọng tâm của Điều lệ Hải quan
1. Bản chất và nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Khẳng định Hải quan là công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản, có nhiệm vụ kiểm soát việc thực hiện chính sách ngoại thương, bảo vệ sản xuất trong nước và đấu tranh chống các hành vi phá hoại kinh tế.
- Khác biệt hoàn toàn với hệ thống hải quan thời kỳ thực dân, hải quan cách mạng tập trung vào việc phục vụ lợi ích của nhân dân, thúc đẩy giao thương hợp pháp và ngăn chặn triệt để nạn buôn lậu qua biên giới.
2. Nguyên tắc kiểm tra và giám sát hải quan (Từ Điều 1 đến Điều 4)
- Phạm vi hoạt động: Xác định rõ ranh giới và địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan, bao gồm khu vực dọc biên giới đất liền, bờ biển, các cửa khẩu, cảng biển, sân bay quốc tế và các địa điểm thông quan nội địa được Nhà nước quy định.
- Chế độ kiểm tra hàng hóa: Mọi hàng hóa, hành lý, ngoại hối và phương tiện vận tải khi đi qua biên giới đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan. Việc kiểm tra phải bảo đảm tính nghiêm túc, nhanh chóng và không gây cản trở bất hợp lý cho hoạt động lưu thông hợp pháp.
- Thủ tục khai báo: Chủ hàng hoặc người điều khiển phương tiện vận tải có trách nhiệm khai báo trung thực, đầy đủ các loại hàng hóa, vật phẩm mang theo trên tờ khai hải quan theo đúng biểu mẫu quy định.
3. Công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại
- Quy định rõ thẩm quyền của nhân viên hải quan trong việc khám xét, tạm giữ người, phương tiện và tang vật vi phạm khi có dấu hiệu buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
- Xác định cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng hải quan với Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) và chính quyền địa phương vùng biên giới để tạo thành mạng lưới kiểm soát khép kín.
- Quy định về việc xử lý tang vật tịch thu: Hàng hóa buôn lậu sau khi tịch thu phải được sung công quỹ nhà nước hoặc chuyển giao cho các cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Hướng dẫn thi hành và hiệu lực văn bản
- Thông tư 51-TTg có hiệu lực thi hành ngay sau khi ban hành, đóng vai trò là cẩm nang nghiệp vụ cho cán bộ hải quan toàn quốc.
- Phủ Thủ tướng yêu cầu Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Bộ Thương nghiệp có trách nhiệm phổ biến, quán triệt tinh thần của Điều lệ Hải quan đến toàn thể nhân dân và các cán bộ chiến sĩ để bảo đảm việc thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 51-TTg | Hà Nội , ngày 27 tháng 02 năm 1960 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
| Kính gửi: | - Các Bộ Ngoại thương, Tài chính, Giao thông vận tải và Bưu điện, Nội Thương, Nông lâm, Văn hóa, Tư pháp, Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, |
Nghị định số 03-CP ngày 27 tháng 02 năm 1960 của Hội đồng Chính phủ đã ban hành bản điều lệ hải quan.
Thông tư này nói rõ thêm một số điểm trọng yếu sau đây thuộc về tinh thần điều lệ để các Bộ, các ngành có liên quan, các Ủy ban hành chính địa phương nắm vững và lãnh đạo thi hành cho thống nhất:
I. VỀ THỂ LỆ VÀ THỦ TỤC HẢI QUAN
Các thể lệ và thủ tục quy định trong điều lệ phần lớn chỉ là hệ thống hóa và chính thức hóa những điều mà ngành Hải quan hiện đang thi hành.
Là một biện pháp để thực hiện nền chuyên chính dân chủ nhân dân, các thể lệ và thủ tục này nhằm:
Phục vụ chính sách quản lý ngoại thương, quản lý ngoại hối của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, góp phần phục vụ đường lối ngoại giao, bảo vệ tài sản của Nhà nước.
Để thực hiện mục đích trên đây, cơ quan Hải quan phải thi hành thể lệ, thủ tục một cách chu đáo và sáng suốt: chặt chẽ trong việc kiểm soát hàng hóa và công cụ vận tải, nhưng phải biết phân biệt giữa hàng hóa trao đổi với các nước anh em và hàng hóa trao đổi với các nước tư bản, giữa hàng hóa trao đổi của Mậu dịch quốc doanh và hàng phi mậu dịch của tư nhân, vv… có thể có trường hợp châm chước một phần trong việc thi hành thủ tục đối với việc qua lại biên giới của các đồng chí bạn và cán bộ, vv…
II. VỀ NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN
Ngoài những nhiệm vụ thông thường, Nhà nước giao thêm cho cơ quan Hải quan Hải quan nhiệm vụ phát hiện với các cơ quan sở quan (Tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu, Đường sắt, Cảng, Hàng không, vv…) và đề nghị biện pháp ngăn ngừa các thiếu sót trong việc bốc dỡ, chuyển vận, sắp xếp, bảo quản hàng hóa.
Đó là xuất phát từ lợi ích bảo vệ tài sản của Nhà nước, vì cơ quan Hải quan có nhiều điều kiện để làm việc này được tốt.
Về quyền hạn, cơ quan Hải quan có quyền khám người, công vụ vận tải, nhà ở; có quyền tạm giữ hàng phạm pháp, tang vật che giấu hàng phạm pháp, công vụ vận tải chuyên chở hàng phạm pháp; trường hợp phạm pháp quả tang buôn lậu lớn, có tổ chức, cơ quan Hải quan có quyền tạm giữ người phạm pháp tại trụ sở cơ quan Hải quan trong thời gian lâu nhất là hai mươi bốn giờ; cơ quan Hải quan xử lý các vụ phạm pháp về hải quan dưới sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính địa phương.
Nhà nước giao những quyền hạn nói trên cho cơ quan Hải quan là cần thiết và hợp lý. Cơ quan Hải quan cần có ý thức đầy đủ về báo cáo, thỉnh thị đối với Ủy ban hành chính và Ủy ban hành chính cần chú trọng lãnh đạo cơ quan Hải quan sử dụng những quyền hạn nói trên cho đúng mức và đúng với thể lệ hiện hành; mặt khác, Ủy ban hành chính địa phương và cơ quan Hải quan cần chú ý giáo dục cán bộ Hải quan về các mặt lập trường, tư tưởng, chính sách, chỉ đạo chặt chẽ việc làm của cán bộ hải quan để kịp thời ngăn ngừa những lệch lạc có thể xảy ra.
Trong khi thi hành nhiệm vụ, cán bộ hải quan phải có thái độ hòa nhã, tôn trọng hành khách, giữ gìn hàng hóa, nêu cao đạo đức cần kiệm liêm chính chí công vô tư.
1. Cơ quan Hải quan xử lý những vụ phạm pháp về hải quan dưới sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính địa phương. Riêng đối với những vụ phạm pháp lớn, nếu xét thấy cần, cơ quan Hải quan có thể chuyển toàn bộ hồ sơ sang cơ quan Công tố xét để truy tố trước Tòa án.
Đối với những trường hợp cơ quan Hải quan đã xử lý mà người phạm pháp vẫn không chấp hành quyết định xử lý của cơ quan Hải quan, thì cơ quan Hải quan có thể đề nghị cơ quan Công tố truy tố trước Tòa án.
Trong mọi trường hợp xử lý, cơ quan Hải quan cần sao quyết định xử lý gửi cho cơ quan Công tố cùng cấp.
2. Việc xử phạt phải nghiêm minh, đồng thời phải sáng suốt tùy theo đối tượng phạm pháp và mức độ, phạm vi của mỗi vụ phạm pháp.
Đối với những vi phạm thủ tục, nhưng không có ý định buôn lậu và đối với những vụ phạm pháp nhỏ, tức là đối với những người chưa hiểu thể lệ, chỉ phê bình, cảnh cáo, bắt nộp thuế. Chỉ phạt tiền và tịch thu hàng đối với những vụ buôn lậu quan trọng và đối với những vụ cố tình phạm pháp hoặc phạm pháp nhiều lần.
Trong tất cả mọi trường hợp xử lý, cần cân nhắc thận trọng, chú trọng giáo dục, đối với những người thực sự là sai lầm vì chưa hiểu thể lệ hải quan, nghiêm trị đối với những người cố tình buôn lậu.
Nhà nước chỉ giao cho Trưởng phòng hải quan quyền phê bình, cảnh cáo, bắt nộp thuế và quy định cán bộ phụ trách ngành Hải quan cấp tỉnh và khu chỉ được xử phạt đến một nghìn đồng (1.000đ) chính là để thể hiện phương châm thận trọng trong công tác xử lý.
3. Về thưởng, hình thức chủ yếu là tuyên dương, cấp giấy khen, bằng khen, huân chương. Chỉ thưởng tiền trong trường hợp để chiếu cố công lao khó nhọc trong việc tìm ra những vụ phạm pháp quan trọng; riêng đối với cán bộ, bộ đội thì không thưởng tiền.
Giải quyết vấn đề thưởng như trên một mặt là căn cứ vào trình độ giác ngộ của quần chúng, của cán bộ, bộ đội dưới sự lãnh đạo và giáo dục cảu Đảng trong nhiều năm qua; mặt khác, do chế độ tiền thưởng hiện đang thi hành, bên cạnh mặt tốt là khuyến khích việc giúp đỡ cơ quan Hải quan bắt lậu, có chỗ không lợi là một số người xấu, muốn được nhiều tiền thưởng đã có những thủ đoạn và hành vi không chính đáng.
Để việc thi hành bản điều lệ hải quan được tốt, các Bộ, các ngành có liên quan, các Ủy ban hành chính địa phương cần tổ chức nghiên cứu kỹ bản điều lệ Hải quan, bản Thông tư này và đặt kế hoạch thi hành chu đáo.
| KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1Thông tư liên bộ 69-LB năm 1961 về quan hệ phối hợp công tác giữa các cơ quan Hải quan và các cơ quan Giao thông vận tải do Bộ Ngoại thương - Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 2Nghị định 03-CP năm 1960 về điều lệ hải quan do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
- 3Sắc lệnh số 125 về việc lập trong quân đội một ngành "Hải quân Việt nam" do Chủ tịch Chính phủ ban hành
Thông tư 51-TTg năm 1960 giải thích tinh thần bản điều lệ hải quan do Phủ Thủ Tướng ban hành
- Số hiệu: 51-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 27/02/1960
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 9
- Ngày hiệu lực: 13/03/1960
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
