Năm 1957, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư 31-TC/TT nhằm giải thích chi tiết về vấn đề cư trú được quy định tại Điều 2 của Sắc luật bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, giúp thống nhất nhận thức và cách áp dụng quy định về cư trú trong quá trình lập danh sách cử tri và tổ chức bầu cử ở các địa phương thời kỳ bấy giờ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư
- Phạm vi áp dụng: Hướng dẫn việc xác định điều kiện cư trú phục vụ cho công tác bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp trên toàn quốc.
- Đối tượng áp dụng: Các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm chuẩn bị và tiến hành bầu cử; Ủy ban Hành chính các cấp; và công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định pháp luật.
Nội dung giải thích về vấn đề cư trú trong bầu cử
Thông tư tập trung làm rõ các nguyên tắc xác định nơi cư trú của công dân để bảo đảm quyền dân chủ trong bầu cử, cụ thể bao gồm các nội dung cốt lõi sau:
- Xác định tiêu chuẩn cư trú hợp pháp: Làm rõ các tiêu chí để một công dân được coi là cư trú thường trú hoặc tạm trú tại một địa phương, từ đó làm cơ sở ghi tên vào danh sách cử tri của địa phương đó.
- Giải quyết các trường hợp đặc biệt về cư trú: Hướng dẫn cụ thể đối với các đối tượng có biến động về nơi ở hoặc tính chất công việc đặc thù như cán bộ đi công tác, bộ đội đóng quân, người lao động di chuyển theo mùa vụ, học sinh, sinh viên học tập xa nhà, đảm bảo họ không bị mất quyền bầu cử và không bị đăng ký trùng lặp tại nhiều nơi.
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý địa phương: Quy định rõ nhiệm vụ của Ủy ban Hành chính cấp cơ sở trong việc điều tra, xác minh tình trạng cư trú thực tế của người dân trên địa bàn để lập danh sách cử tri chính xác, công khai và minh bạch.
- Giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri: Hướng dẫn trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải quyết các kiến nghị, khiếu nại của người dân liên quan đến việc xác định sai lệch thông tin cư trú hoặc bỏ sót tên trong danh sách cử tri.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 31-TC/TT có hiệu lực thi hành ngay từ thời điểm ban hành năm 1957, phục vụ trực tiếp cho công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp trong giai đoạn lịch sử này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | VIỆT |
| Số: 31-TC/TT | Hà Nội, ngày 07 tháng 10 năm 1957 |
Điều 2 Sắc luật kể trên định rằng: “Các công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử.”
Không phân biệt thời hạn cư trú có nghĩa là không đòi hỏi một ngwời công dân phải cư trú ở một địa phương trong một thời gian tối thiểu nào đó (như 3 tháng trở lên theo các Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 và số 77 ngày 21-12-1945) mới có quyền bầu cử ở địa phương ấy. Những cử tri phải cư trú ở một địa phương mới có quyền bầu cử ở địa phương ấy.
Thế nào là cư trú ở một địa phương? Một người cư trú ở một địa phương khi người đó có chỗ ở chính làm ăn sinh sống chính, sinh hoạt chính trị chính thức ở địa phương đó và đã được chính quyền xác nhận đã đăng ký vào một hộ khẩu chính của địa phương).
Căn cứ vào định nghĩa trên, được coi như cư trú tại một địa phương:
a) Nhân dân quê quán và vẫn làm ăn ở địa phương đó.
b) Nhân dân mới đến ở địa phương nhưng có đủ điều kiện như đã nói trên.
c) Các cán bộ, công nhân viên công tác trong các cơ quan đoàn thể, xí nghiệp Nhà nước tại địa phương.
d) Các quân nhân tại ngũ thuộc các đơn vị đóng tại địa phương.
Ngoài ra, những người có cơ sở nhất định để hoạt động tôn giáo, văn hóa, v.v... ở một địa phương cũng coi là cư trú ở địa phương đó như:
Coi như tạm trú tại một địa phương và không có quyền bầu cử ở địa phương đó:
a) Những người chỉ đến ở địa phương một thời gian nhất định (một vài tháng) để làm các nghề phụ, giải quyết một việc riêng, chữa bệnh v.v... rồi lại về quê quán hay nơi có chỗ ở chính của mình.
b) Các cán bộ, công nhân viên, quân nhân, linh mục, sư vãi, sinh viên, học sinh đến địa phương nghỉ phép, dưỡng bệnh, dự hội nghị, giảng dạo, thuyết pháp, tham quan, thực tập, làm một công tác nhất định v.v... rồi lại trở về cơ quan, đoàn thể, xí nghịêp, doanh trại, nơi chụ trì, trường, sở của mình.
Những người đăng ký hộ khẩu ở một nơi gọi là ký túc cũng không có quyền bầu cử ở địa phương ấy?
Theo điều 3 Nghị định chi tiết hóa Sắc luật số 004/SL thì mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi. Nơi mà người công dân được quyền bầu cử và ứng cử phải là nơi mà người đó có nhiều quyền lợi chính trị và kinh tế hơn cả, tức là nơi cư trú như đã định nghĩa ở trên. Còn các nơi ở khác (tạm trú hay ký túc) mà người công dân không có quyền lợi chính trị và kinh tế hay có rất ít thì không nên cho ghi tên họ vào danh sách cử tri ở những nơi đó.
Nếu để một người công dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi tạm trú hay ký túc, mà không ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi cư trú thì trái với quyền lợi chính đáng của họ. Nếu để họ ghi tên ở cả 2 nơi (cư trú và tạm trú hay là ký túc) thì trái với Luật bầu cử hiện hành.
Quan niệm vấn đề “cư trú” như trên là căn cứ vào tình hình thực tế nước nhà.
Khi tiến hành xây dựng danh sách cử tri, nếu gặp trường hợp đặc biệt mà Thông tư không nói đến, các cơ quan có trách nhiệm cần báo cáo cụ thể lên Bộ ngay để Bộ kịp thời góp ý kiến giải quyết.
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ |
Thông tư 31-TC/TT năm 1957 giải thích vấn đề cư trú quy định trong điều 2 Sắc luật bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp do Bộ Nội vụ ban hành
- Số hiệu: 31-TC/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 07/10/1957
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Tô Quang Đẩu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 48
- Ngày hiệu lực: 22/10/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
