Thông tư số 2-BYT/TT được Bộ Y tế ban hành năm 1984 nhằm hướng dẫn thi hành Quyết định số 7-HĐBT ngày 10 tháng 01 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ thai sản đối với nữ công nhân viên chức Nhà nước. Văn bản này hướng dẫn chi tiết về mặt chuyên môn y tế, các tiêu chuẩn xác định thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp và thủ tục cấp giấy chứng nhận y tế đối với lao động nữ trong các trường hợp thai sản, sinh đẻ có kế hoạch và chăm sóc con ốm đau.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư áp dụng đối với toàn thể nữ công nhân, viên chức, cán bộ đang công tác trong các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, tổ chức sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các tổ chức xã hội được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của Nhà nước. Quy định hướng tới việc bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ và trẻ em, đồng thời khuyến khích thực hiện công tác sinh đẻ có kế hoạch.
- Chế độ nghỉ việc đi khám thai và thực hiện các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch
- Nữ công nhân viên chức trong thời kỳ mang thai được nghỉ việc để đi khám thai định kỳ. Số lần nghỉ thông thường là 3 lần trong suốt thai kỳ, mỗi lần nghỉ 1 ngày. Trong trường hợp thai có bệnh lý hoặc diễn biến bất thường cần theo dõi đặc biệt, số lần nghỉ và thời gian nghỉ sẽ tăng thêm theo chỉ định cụ thể của bác sĩ chuyên khoa phụ sản.
- Khi thực hiện các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch như đặt vòng tránh thai, hút điều hòa kinh nguyệt, nạo thai hoặc triệt sản, lao động nữ được nghỉ việc hưởng nguyên lương và phụ cấp. Thời gian nghỉ cụ thể do cơ sở y tế trực tiếp thực hiện thủ thuật quyết định dựa trên tình trạng sức khỏe của từng cá nhân.
- Chế độ nghỉ việc khi sẩy thai, nạo thai hoặc thai chết lưu
- Trường hợp sẩy thai, nạo thai hoặc thai chết lưu dưới 3 tháng tuổi, nữ công nhân viên chức được nghỉ việc để điều trị và phục hồi sức khỏe từ 15 đến 20 ngày.
- Trường hợp sẩy thai hoặc thai chết lưu từ 3 tháng tuổi trở lên, thời gian nghỉ việc được kéo dài từ 30 đến 40 ngày tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe và chỉ định của y bác sĩ điều trị.
- Chế độ nghỉ đẻ và trợ cấp thai sản
- Thời gian nghỉ đẻ thông thường là 75 ngày (tính cả thời gian nghỉ trước và sau khi sinh). Đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh hoạt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, thời gian nghỉ đẻ được kéo dài thành 90 ngày.
- Trường hợp sinh đôi trở lên, từ con thứ hai trở đi, người mẹ được nghỉ thêm 15 ngày cho mỗi con.
- Trong suốt thời gian nghỉ đẻ theo quy định, nữ công nhân viên chức được hưởng trợ cấp thai sản bằng 100% tiền lương cấp bậc hoặc chức vụ cùng các khoản phụ cấp (nếu có) do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả.
- Chế độ nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau
- Nữ công nhân viên chức có con dưới 12 tháng tuổi bị ốm đau, nếu có xác nhận của cơ sở y tế về việc con cần có mẹ trực tiếp chăm sóc, thì được nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.
- Đối với con từ 1 tuổi đến dưới 7 tuổi bị ốm đau, người mẹ được nghỉ việc để chăm sóc con theo thời gian chỉ định của bác sĩ, nhưng tổng số ngày nghỉ tối đa trong một năm không được vượt quá giới hạn quy định chung của Nhà nước.
- Quy định về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận y tế
- Chỉ các cơ sở y tế Nhà nước có thẩm quyền bao gồm: bệnh viện các cấp, phòng khám đa khoa khu vực, nhà hộ sinh, trạm y tế xã, phường, thị trấn hoặc y tế cơ quan (được ủy quyền) mới có quyền cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
- Giấy chứng nhận phải được ghi chép rõ ràng, chính xác về lý do nghỉ, số ngày nghỉ, có chữ ký của người khám bệnh và đóng dấu hợp pháp của cơ sở y tế để làm căn cứ quyết toán với cơ quan bảo hiểm xã hội.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 2-BYT/TT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1984. Các quy định trước đây của Bộ Y tế về chế độ thai sản đối với nữ công nhân viên chức trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ Y TẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2-BYT/TT | Hà Nội, ngày 21 tháng 1 năm 1984 |
Thi hành Quyết định số 7-HĐBT ngày 15-1-1983 của Hội đồng bộ trưởng với sửa đổi, bổ sung chế độ thai sản đối với nữ công nhân viên, viên chức Nhà nước, sau khi thống nhất với Tổng công đoàn Việt Nam, Bộ Y tế quy định về những trường hợp do bệnh tật, không nuôi con bằng sữa mẹ được quy định tại Điều 3, gồm có các trường hợp sau đây.
I. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC QUY ĐỊNH CHO NỮ CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC KHÔNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ DO BỆNH TẬT
A. BỆNH VỀ TIM GỒM CÓ CÁC BỆNH NHƯ SAU:
1. Bệnh thấp tim đang tiến triển, hoặc tái phát.
2. Các bệnh van tim do thấp, co suy tim; hẹp 2 lá, hở 2 lá, hẹp hở hai lá, hở động mạch chủ, bệnh 2 lá động mạch chủ, hẹp động mạch chủ.
3. Một số trường hợp rối loạn nhịp tim như:
Blốc nhĩ thất cấp 2, Blốc nhĩ thất cấp 3, có những cơn Adams Stokes.
Các ngoại tâm thu thực tổn.
Các trường hợp rung nhĩ, cuồng nhĩ.
Có những cơn nhịp nhanh trên thất nhịp nhanh thất.
4. Tăng huyết áp giai đoạn II trở lên.
5. Các trường hợp tai biến mạch máu não do nguyên nhân tim mạch.
6. Suy tim bất cứ nguyên nhân nào.
7. Viêm màng ngoài tim, dày dính màng ngoài tim.
8. Suy mạch vành, nhồi máu cơ tim.
9. Các bệnh tim bẩm sinh, có suy tim.
B. CÁC TRƯỜNG HỢP SAU ĐÂY VỀ BỆNH LAO:
1. Bao gồm các thể lao đang tiến triển và bệnh nhân lao đang được điều trị nội, ngoại trú tại một cơ sở y tế.
C. CÁC BỆNH VỀ DA LIỄU NHƯ SAU:
1. Pemphigus (Bệnh da có bọng nước)
2. Durhing
3. Toxidermie (nhiễm độc da do thuốc).
4. Hansen (phong, cùi, hủi).
5. Tokélau (vẩy rồng)
6. Giang mai chưa điều trị khỏi.
7. Lao da.
8. Psoriasis (vẩy nến đang thời kỳ vượng bệnh).
D. CÁC LOẠI BỆNH KHÁC.
1. Các bệnh thuộc về vú:
- Ung thư vú.
- áp xe vú (phải chích áp xe mất hẳn sữa).
- Đứt núm vú không còn đầu vú, không có núm vú bẩm sinh.
2. Các trường hợp ung thư đang điều trị nội, ngoại trú tại một cơ sở y tế.
3. Bệnh viêm gan do siêu vi trùng, bệnh thương hàn, đang điều trị, sơ gan cổ chướng.
4. Suy nhược cơ thể nặng kéo dài đã qua điều trị tại bệnh viện huyện trở lên mà không hồi phục.
5. Các trường hợp mổ lấy thai, nhiễm trùng huyết, viêm phúc mạc.
6. Sau các trường hợp phẫu thuật lớn khác (con chưa đủ 6 tháng tuổi).
7. Bệnh Basedow đang điều trị (bằng kháng giáp hoặc iode phóng xạ).
8. Bệnh viêm thận, nhiễm mỡ.
9. Các cháu bị hở hàm ếch, sứt môi, không thể bú mẹ được.
10. Các bệnh tâm thần và thần kinh đang điều trị như:
a) Các bệnh tâm thần:
- Bệnh loạn thần như tâm thần phân liệt, loạn thần hưng trầm cảm (P.M. D) loạn thần phản ứng, loạn thần triệu chứng. Loạn thần sau chấn thương sọ não và các bệnh loạn thần khác mà đang điều trị tích cực hoặc điều trị ngoại trú có số theo dõi bằng các thuốc hướng thần như Aminazine, Melipramine, Halopecidol.
- Các bệnh động kinh cơn lớn, cơn nhỏ, cục bộ, động kinh có rối loạn tâm thần đang dùng các thuốc kháng động kinh như Phénobacbital, gacdenal, séduxen, sodanton... (vì thuốc ngấm vào sữa mẹ).
b. Các bệnh thuộc thần kinh.
- Nhiễm trùng thần kinh: viêm não, viêm màng não, viêm não - màng não, viêm tuỷ, viêm nhiều rễ và dây thần kinh, áp xe não, áp xe ống sống.
- Các khối u não, u tuỷ, u thần kinh.
- Tai biến mạch máu não, sau để chảy mãu não và chảy máu màng não, não đang trong thời kỳ hồi phục, u mạch tuỷ.
- Bệnh suy nhược cơ, loạn dưỡng cơ tiến triển.
- Hội chứng tăng áp lực sọ não quá cao đang trong giai đoạn tiến triển.
- Tổn thương liệt vận động sau chấn thương sọ não.
- Rối loạn vận động do tổn thương hệ ngoại tháp như Parkinson.
Chứng nhận bệnh tật nữ cán bộ, công nhân, viên chức không nuôi con bằng sữa mẹ, thực hiện đối với các cháu chưa đủ 6 tháng tuổi theo Quyết định tại Điều 5.
1. Các trường hợp đã được quy định là bệnh lý người mẹ không được nuôi con bằng sữa mẹ ở trên (trừ trường hợp cấp cứu) phải qua y tế cơ sở giới thiệu đến chuyên khoa khám và có quá trình điều trị nội, ngoại trú, có sổ sức khoẻ hoặc y bạ, đơn thuốc, giấy ra viện.
2. Chứng nhận bệnh lý: phụ trách chuyên khoa chịu trách nhiệm chứng nhận và đề nghị cấp, thông qua chánh, phó giám đốc phụ trách chuyên môn duyệt và đóng dấu của viện hoặc bệnh viện đa khoa hoặc chuyên khoa tuyến tỉnh, thành phố thuộc các sở y tế tỉnh và thành phố, hoặc viện và bệnh viện chuyên khoa đầu ngành của trung ương.
a) Đối với các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố không có chuyên khoa sâu thì gửi lên tuyến trung ương khám và điều trị nội, ngoại trú (đối với những tỉnh, thành có bệnh viện trung ương đóng tại địa phương). Những tỉnh, thành phố có bệnh viện không đủ chuyên khoa sâu, chánh hoặc phó giám đốc phụ trách chuyên môn chủ trì tổ chức hội chẩn để xác định bệnh, và có ít nhất hai bác sĩ tham gia hội chẩn cùng ký.
b) Đối với các bệnh viện tuyến huyện có khả năng làm được phẫu thuật cấp cứu do bệnh viện điều trị được chứng nhận bệnh lý thông qua bệnh viện trưởng ký chứng nhận.
Các đối tượng ghi ở Điều 5, Điều 6 của Quyết định số 7-HĐBT ngày 15-1-1983 của Hội đồng Bộ trưởng được mua sữa để nuôi trẻ mới đẻ như quy định tại Thông tư số 21-TT-TCĐ ngày 12-3-1983 của Tổng công đoàn và Thông tư số 3-NT ngày 3-3-1983 của Bộ Nội thương.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Những trường hợp quy định trước đây khám mất sữa trái với quy định này đều bãi bỏ.
| Nguyễn Văn Đàn (Đã ký) |
Thông tư 2-BYT/TT 1984 hướng dẫn thi hành Quyết định 7-HĐBT 1983 về chế độ thai sản đối với nữ công nhân viên chức Nhà nước do Bộ Y tế ban hành
- Số hiệu: 2-BYT/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 21/01/1984
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: Nguyễn Văn Đàn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 6
- Ngày hiệu lực: 21/01/1984
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
