Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định quan trọng của Pháp lệnh năm 1998. Văn bản này tập trung hoàn thiện các quy định về quyền khởi kiện, thẩm quyền của Tòa án các cấp, trình tự, thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính và quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trước các quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật.
Phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh bao gồm các quy định về trình tự, thủ tục khởi kiện, thụ lý, giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án hành chính. Đối tượng áp dụng là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có quyền khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính; cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống bị kỷ luật buộc thôi việc; Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình tố tụng hành chính.
Quy định về quyền khởi kiện và điều kiện khởi kiện vụ án hành chính
- Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính khi: Đã khiếu nại lần đầu với người có thẩm quyền nhưng hết thời hạn giải quyết theo Luật khiếu nại, tố cáo mà không được giải quyết và không tiếp tục khiếu nại lên cấp trên; hoặc đã khiếu nại lần đầu nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết và không tiếp tục khiếu nại tiếp theo.
- Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và không tiếp tục khiếu nại lên cấp trên.
- Người khởi kiện có thể đồng thời yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, khi đó các quy định của pháp luật dân sự và tố tụng dân sự sẽ được áp dụng để giải quyết phần yêu cầu bồi thường này.
- Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để các bên thỏa thuận; người khởi kiện có quyền rút đơn kiện, người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định bị khiếu kiện.
Giải thích từ ngữ và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
- Pháp lệnh định nghĩa rõ ràng các khái niệm then chốt như: "Quyết định hành chính", "Hành vi hành chính", "Quyết định kỷ luật buộc thôi việc", "Đương sự", "Người khởi kiện", "Người bị kiện", và "Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan".
- Người khởi kiện có nghĩa vụ làm đơn kiện và cung cấp bản sao quyết định hành chính, quyết định kỷ luật, quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu cùng các chứng cứ liên quan.
- Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án bản sao văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu làm căn cứ ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khiếu kiện.
- Tòa án có quyền xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu để bảo đảm giải quyết vụ án chính xác.
Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án các cấp
- Tòa án có thẩm quyền giải quyết 10 nhóm khiếu kiện cụ thể, bao gồm: xử phạt vi phạm hành chính; buộc tháo dỡ nhà ở, công trình xây dựng; áp dụng biện pháp xử lý hành chính (giáo dục tại xã/phường, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính); kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức từ Vụ trưởng trở xuống; quản lý đất đai; cấp/thu hồi giấy phép xây dựng, sản xuất, kinh doanh; trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản; thu thuế, truy thu thuế; thu phí, lệ phí; và các khiếu kiện khác theo luật định.
- Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các khiếu kiện đối với quyết định, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh thổ; và quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống.
- Tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm các khiếu kiện đối với quyết định, hành vi hành chính của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (và thủ trưởng các cơ quan này) mà người khởi kiện cư trú hoặc làm việc trên cùng lãnh thổ; quyết định của cơ quan cấp tỉnh; quyết định kỷ luật buộc thôi việc thuộc thẩm quyền quản lý của cấp tỉnh trở lên; và có thể lấy lên giải quyết các vụ án thuộc thẩm quyền cấp huyện khi cần thiết.
- Tòa án nhân dân tối cao giải quyết sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền cấp tỉnh mà Tòa án tối cao lấy lên giải quyết do tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều tỉnh hoặc khó xác định thẩm quyền.
Phân định thẩm quyền giữa Tòa án và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
- Trường hợp vừa có đơn khiếu nại tiếp theo, vừa có đơn khởi kiện tại Tòa án: Nếu chỉ có một người thực hiện cả hai quyền thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án; nếu có nhiều người, trong đó có người khởi kiện và có người khiếu nại tiếp theo, thì thẩm quyền giải quyết thuộc về người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo.
- Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền ngay sau khi phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.
Thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
- Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc các trường hợp: là đương sự, người thân thích của đương sự; đã tham gia ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu; đã tham gia ban hành quyết định kỷ luật buộc thôi việc; đã tham gia xét xử cùng vụ án ở các cấp khác (trừ thành viên Hội đồng Thẩm phán); hoặc có căn cứ khác cho thấy không vô tư.
- Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch cũng phải từ chối tham gia hoặc bị thay đổi nếu có các căn cứ tương tự như đối với Thẩm phán, Hội thẩm.
Thủ tục khởi kiện, thụ lý vụ án và trả lại đơn kiện
- Thời hạn khởi kiện là 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà không đồng ý. Đối với vùng sâu, vùng xa, thời hạn này là 45 ngày. Thời gian có trở ngại khách quan (ốm đau, thiên tai, dịch họa...) không tính vào thời hiệu khởi kiện.
- Đơn kiện phải bảo đảm đầy đủ các nội dung chính theo quy định và kèm theo tài liệu chứng minh.
- Tòa án trả lại đơn kiện trong các trường hợp: người khởi kiện không có quyền; hết thời hiệu khởi kiện không có lý do chính đáng; chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu; đã hết thời hiệu khiếu nại lần đầu mà không khiếu nại; chưa có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc; đã có quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền tiếp theo; sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực; hoặc không thuộc thẩm quyền của Tòa án.
- Tòa án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí (trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận thông báo), hoặc ngày nhận đơn kiện đối với trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí.
Đình chỉ giải quyết vụ án và hoãn phiên tòa
- Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi: đương sự là cá nhân đã chết mà quyền lợi không được thừa kế, tổ chức giải thể không có người kế thừa; người khởi kiện rút đơn; người khởi kiện vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do chính đáng; hết thời hạn khởi kiện trước ngày thụ lý; sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực; đã có quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền tiếp theo; hoặc sự việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án.
- Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa sơ thẩm khi: vắng mặt Kiểm sát viên hoặc thiếu ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát; đương sự hoặc người đại diện vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng; thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký, người giám định, người phiên dịch mà không có người thay thế ngay; hoặc cần xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.
Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
- Trước hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng cáo, kháng nghị.
- Tòa án cấp phúc thẩm có quyền: bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ xét xử lại nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc thiếu chứng cứ không thể bổ sung; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định.
- Bản án sơ thẩm bị sửa đổi nếu nội dung trái pháp luật, không phù hợp hồ sơ vụ án hoặc có chứng cứ mới chứng minh bản án sơ thẩm trái pháp luật, không đúng sự thật khách quan.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn áp dụng
- Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày công bố. Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.
- Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng dẫn thi hành các quy định của Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10/1998/PL-UBTVQH10 | Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 1998 |
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Luật khiếu nại, tố cáo;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 4 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X;
Pháp lệnh này sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính như sau:
1. Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 2
1. Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các trường hợp sau đây:
a) Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại các điều từ Điều 19 đến Điều 25 của Luật khiếu nại, tố cáo, nhưng hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết và cũng không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo;
b) Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại các điều từ Điều 19 đến Điều 25 của Luật khiếu nại, tố cáo, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại và cũng không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo.
2. Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính về quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với mình, nếu đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại và cũng không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo."
2. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 3
Người khởi kiện vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại; trong trường hợp này các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự cũng được áp dụng để giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.
Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các bên có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người khởi kiện có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện.
Người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị khiếu kiện."
3. Điều 4 được sửa đổi , bổ sung như sau:
"Điều 4
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. "Quyết định hành chính" là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.
2. "Hành vi hành chính" là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
3. "Quyết định kỷ luật buộc thôi việc" là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
4. "Đương sự " bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5. "Người khởi kiện" là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc cán bộ, công chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định kỷ luật buộc thôi việc, nên đã khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền.
6. "Người bị kiện" là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị khiếu kiện.
7. "Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức, do có việc khởi kiện vụ án hành chính của người khởi kiện đối với người bị kiện mà việc giải quyết vụ án hành chính đó có liên quan đến quyền lợi hoặc nghĩa vụ của họ."
4. Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 5
Người khởi kiện phải làm đơn kiện theo quy định tại Điều 30 của Pháp lệnh này; có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Toà án bản sao văn bản quy phạm pháp luật cũng như bản sao các văn bản tài liệu khác mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc có hành vi hành chính.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tham gia tố tụng với bên người khởi kiện, bên người bị kiện hoặc tham gia tố tụng độc lập, có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Khi cần thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính được chính xác. Đương sự, cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức được yêu cầu phải cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do."
5. Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 11
Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính sau đây:
1. Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
3. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính với một trong các hình thức: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính;
4. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống;
5. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai;
6. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp giấy phép, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh;
7. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản;
8. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc thu thuế, truy thu thuế;
9. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc thu phí, lệ phí;
6. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 12
1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Toà án cấp huyện) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án sau đây:
a) Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh thổ và của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đó;
b) Những khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh thổ đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó.
2. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Toà án cấp tỉnh) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án sau đây:
a) Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng các cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng lãnh thổ;
b) Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan chức năng thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ, công chức của các cơ quan chức năng đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng lãnh thổ;
c) Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng lãnh thổ và của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đó;
d) Những khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó, trừ những khiếu kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
đ) Trong trường hợp cần thiết, Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện liên quan đến nhiều đối tượng, phức tạp hoặc trong trường hợp các Thẩm phán của Toà án cấp huyện đó đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.
3. Toà án nhân dân tối cao giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm những khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng các cơ quan đó liên quan đến nhiều tỉnh, phức tạp hoặc trong trường hợp khó xác định được thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh nào; khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh liên quan đến nhiều đối tượng, phức tạp hoặc trong trường hợp các Thẩm phán của Toà án cấp tỉnh đó đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi."
7. Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 13
1. Trong trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính không được giải quyết hoặc trong trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, khiếu nại quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức đã được giải quyết lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý, thì họ có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền. Trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo, vừa có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, thì phân biệt thẩm quyền như sau:
a) Nếu chỉ có một người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo, thì việc giải quyết thuộc thẩm quyền của Toà án. Cơ quan đã thụ lý việc giải quyết khiếu nại phải chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Toà án có thẩm quyền;
b) Nếu có nhiều người, trong đó có người khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, có người khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo thì việc giải quyết thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo. Toà án đã thụ lý vụ án hành chính phải chuyển hồ sơ vụ án cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo ngay sau khi phát hiện việc giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền của mình.
2. Toà án đã thụ lý vụ án hành chính phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền ngay sau khi phát hiện việc giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền của mình. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Toà án do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết."
8. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 16
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:
a) Đồng thời là đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người thân thích của đương sự, người làm chứng trong vụ án;
b) Đã tham gia vào việc ra quyết định hành chính hoặc có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện;
c) Đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính;
d) Đã tham gia vào việc ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức hoặc đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức;
đ) Đã tham gia xét xử cùng một vụ án với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm, trừ các thành viên của Uỷ ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh, thì được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
e) Đã tham gia tố tụng cùng một vụ án với tư cách là Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch;
g) Trong một Hội đồng xét xử mà Thẩm phán, Hội thẩm là người thân thích với nhau;
h) Có người thân thích đã tham gia tố tụng cùng một vụ án ở cấp xét xử khác;
i) Có căn cứ cho thấy có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
2. Kiểm sát viên, Thư ký Toà án phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:
a) Đã tham gia tố tụng cùng một vụ án ở cấp xét xử khác;
b) Có căn cứ quy định tại các điểm a, b, c, d, h và i khoản 1 Điều này."
9. Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 20
1. Trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện; người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức, khắc phục hành vi hành chính bị khiếu kiện, có quyền phản bác yêu cầu của người khởi kiện hoặc đề xuất yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của người khởi kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc cùng tham gia tố tụng với bên đương sự khác.
2. Các đương sự có quyền:
a) Đưa ra tài liệu, chứng cứ; được đọc, sao chụp, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp;
b) Yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tham gia phiên toà;
d) Yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch nếu có lý do quy định tại Điều 16 và Điều 27 của Pháp lệnh này;
đ) Thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hành chính, nếu thoả thuận đó không trái pháp luật;
e) Tranh luận tại phiên toà;
g) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án;
h) Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Các đương sự có nghĩa vụ:
a) Cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ có liên quan theo yêu cầu của Toà án;
b) Có mặt theo giấy triệu tập của Toà án;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà."
10. Điều 21 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 21
1. Đương sự từ đủ mười tám tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính.
2. Đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng thông qua người đại diện; nếu không có ai đại diện cho họ, thì Toà án cử một người thân thích của họ hoặc yêu cầu một cơ quan, tổ chức cử một thành viên làm người đại diện cho họ."
11. Điều 27 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 27
Người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu có căn cứ quy định tại các điểm a, b, c, d, h và i khoản 1 Điều 16 của Pháp lệnh này. Việc thay đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án quyết định; tại phiên toà do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi."
12. Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 30
1. Người khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính phải làm đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó. Cán bộ, công chức khởi kiện đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc phải làm đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó.
Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn thì các thời hạn khởi kiện nói trên là bốn mươi lăm ngày.
2. Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khởi kiện.
3. Đơn kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;
d) Nội dung quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức hay tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;
đ) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có);
e) Cam đoan không khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo;
g) Các yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết.
4. Đơn kiện phải do người khởi kiện ký; nếu họ là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, thì phải do người đại diện của họ ký. Kèm theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện."
13. Điều 31 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 31
Toà án trả lại đơn kiện trong những trường hợp sau đây:
1. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
2. Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;
3. Chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu quy định tại Điều 36 Luật khiếu nại, tố cáo và chưa có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu;
4. Đã hết thời hiệu khiếu nại lần đầu quy định tại Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo mà không khiếu nại;
5. Chưa có quyết định giải quyết lần đầu đối với khiếu nại quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
6. Đã có quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo;
7. Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án;
8. Việc được khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án."
14. Điều 32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 32
1. Nếu Toà án xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của mình, thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
2. Toà án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, thì Toà án thụ lý vụ án vào ngày nhận được đơn kiện."
15. Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 41
1. Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
b) Người khởi kiện rút đơn kiện; Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố trong trường hợp không có người khởi kiện;
c) Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng;
d) Thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày Toà án thụ lý đơn;
đ) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án;
e) Đã có quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo;
g) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
2. Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này."
16. Điều 45 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 45
Hội đồng xét xử hoãn phiên toà trong các trường hợp sau đây:
1. Vắng mặt Kiểm sát viên hoặc chưa có ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát trong trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên toà hay phải có ý kiến bằng văn bản;
2. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc người đại diện của họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng đối với phiên toà sơ thẩm được tiến hành với sự có mặt của người tham gia tố tụng;
3. Thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, người giám định, người phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay;
4. Cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung."
17. Khoản 1 Điều 58 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 58
1. Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng cáo; Viện kiểm sát kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng nghị; Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới."
18. Điều 64 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 64
1. Phiên toà phúc thẩm được tiến hành theo các thủ tục như phiên toà sơ thẩm. Trước khi xem xét kháng cáo, kháng nghị, một thành viên Hội đồng xét xử trình bày nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2. Toà án cấp phúc thẩm có quyền:
a) Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm;
b) Sửa một phần hoặc toàn bộ phần quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm;
c) Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc việc xác minh, thu thập chứng cứ không đầy đủ mà Toà án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được;
d) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Điều 40 của Pháp lệnh này;
đ) Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Điều 41 của Pháp lệnh này;
e) Đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Đối với trường hợp có nhiều người kháng cáo, thì Toà án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm, nhưng không xem xét nội dung kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt nói trên.
3. Bản án, quyết định sơ thẩm bị sửa đổi một phần hoặc toàn bộ khi:
a) Nội dung trái pháp luật, không phù hợp với hồ sơ vụ án;
b) Có chứng cứ mới cho thấy bản án, quyết định sơ thẩm trái pháp luật, không đúng với sự thật khách quan của vụ án."
19. Sửa đổi một số từ ngữ tại các điều 19, 28, 37, 40, 46, 56 và 73 như sau:
1. "Bên bị kiện" quy định tại khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 46 thành "người bị kiện".
2. "Pháp nhân" quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 2 Điều 28, khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 56 và Điều 73 thành "cơ quan, tổ chức".
Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày công bố.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành, để hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung theo các pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 25 tháng 12 năm 1998 và ngày 04 tháng 5 năm 2006
- 2Nghị quyết 03/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành
- 3Lệnh công bố Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi năm 2006
- 4Luật tố tụng hành chính 2010
- 5Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Luật Tố tụng hành chính do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 1Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành, để hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung theo các pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 25 tháng 12 năm 1998 và ngày 04 tháng 5 năm 2006
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Nghị quyết số 11/1997/NQ-QH10 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1998 do Quốc hội ban hành
- 4Luật Khiếu nại, tố cáo 1998
- 5Công văn về việc giải đáp bổ sung một số vấn đề áp dụng pháp luật
- 6Nghị quyết 03/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành
- 7Lệnh công bố Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi năm 2006
- 8Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Luật Tố tụng hành chính do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1998
- Số hiệu: 10/1998/PL-UBTVQH10
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 25/12/1998
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 5
- Ngày hiệu lực: 05/01/1999
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
