Ngày 03 tháng 12 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Nghị quyết số 37/2004/NQ-QH11 về giáo dục. Nghị quyết này tập trung đánh giá toàn diện thực trạng giáo dục nước nhà, đồng thời đề ra các chủ trương, giải pháp then chốt nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản, vững chắc trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong giai đoạn mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị quyết áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục từ trung ương đến địa phương; các cơ sở giáo dục thuộc mọi loại hình trong hệ thống giáo dục quốc dân; đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; cùng các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo tại Việt Nam.
Đánh giá thực trạng giáo dục và đào tạo
- Nghị quyết ghi nhận những thành tựu quan trọng về việc mở rộng quy mô giáo dục, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, bước đầu thực hiện xã hội hóa giáo dục và nâng cao dân trí.
- Đồng thời, văn bản thẳng thắn chỉ ra những yếu kém kéo dài như: chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; chương trình, giáo trình và phương pháp dạy học còn lạc hậu, nặng nề về lý thuyết; công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, lỏng lẻo; các hiện tượng tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích và tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm phát triển giáo dục
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử truyền thống và trách nhiệm công dân cho học sinh, sinh viên.
- Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học, khắc phục triệt để lối truyền thụ một chiều, đọc chép.
- Quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội và địa phương.
Đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giáo dục
- Tiếp tục triển khai hiệu quả việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, bảo đảm tính khoa học, hiện đại, thực tiễn và giảm tải nội dung học tập không cần thiết.
- Tổ chức đánh giá, nghiệm thu khách quan chất lượng sách giáo khoa mới, kịp thời điều chỉnh những sai sót, bất cập trước khi đưa vào giảng dạy đại trà.
Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
- Xây dựng và thực hiện quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo; chú trọng nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn.
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, đặc biệt là giáo viên công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Đổi mới cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đánh giá cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm lựa chọn được những người có đủ năng lực và tâm huyết.
Tăng cường nguồn lực đầu tư và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục
- Bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đạt mức tối thiểu theo quy định của Luật Giáo dục, ưu tiên đầu tư cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ cập và các vùng khó khăn.
- Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập chất lượng cao.
- Tăng cường quản lý, giám sát việc sử dụng các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất trong giáo dục, bảo đảm tính công khai, minh bạch và chống lãng phí, tiêu cực.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục
- Đẩy mạnh phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các trường đại học, cao đẳng.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát toàn diện các hoạt động giáo dục; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, tiêu cực trong thi cử, tuyển sinh, cấp phát văn bằng, chứng chỉ.
- Thực hiện các giải pháp đồng bộ để quản lý và chấn chỉnh hoạt động dạy thêm, học thêm, bảo đảm đi vào nề nếp và đúng quy định.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết số 37/2004/NQ-QH11 có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua (ngày 03 tháng 12 năm 2004). Các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 37/2004/NQ-QH11 | Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2004 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ GIÁO DỤC
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật Giáo dục;
Căn cứ vào Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội;
Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 1534/CP-KG, ngày 14 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về tình hình giáo dục; Báo cáo thẩm tra số 662BC/VH-GD-TTN, ngày 20 tháng 10 năm 2004 của Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội về báo cáo của Chính phủ và ý kiến của đại biểu Quốc hội;
QUYẾT NGHỊ
Quốc hội cơ bản tán thành với Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội về giáo dục.
Trong những năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển về quy mô, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân; cả nước đã hoàn thành phổ cập tiểu học vào năm 2000 và đến năm học 2004-2005 đã có 20 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được công nhận hoàn thành phổ cập trung học cơ sở; chất lượng giáo dục có chuyển biến tích cực, lực lượng lao động được đào tạo đã và đang góp phần có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục phát triển chưa cân đối giữa giáo dục nghề nghiệp với giáo dục trung học phổ thông và giáo dục đại học. Quy mô giáo dục nghề nghiệp còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của xã hội. Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, hiệu quả giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, công tác quản lý giáo dục còn hạn chế. Những tiêu cực trong giáo dục như thiếu trung thực trong học tập, dạy thêm, học thêm tràn lan mang tính áp đặt, thi cử nặng nề, tốn kém gây bức xúc trong xã hội.
Quốc hội ghi nhận những thành tựu của giáo dục đã đạt được và giao Chính phủ tiếp tục chỉ đạo đổi mới giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục, mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và tiếp cận với trình độ giáo dục tiên tiến của khu vực và thế giới. Nghiên cứu điều chỉnh chiến lược giáo dục đến năm 2010 và xây dựng chiến lược giáo dục dài hạn cho những năm tiếp theo.
Quốc hội nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:
1. Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục mầm non. Nâng cao chất lượng thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 và Nghị quyết số 41/2000/QH10 của Quốc hội. Nghiên cứu điều chỉnh phương án phân ban trung học phổ thông góp phần tích cực hướng nghiệp cho học sinh và phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.
2. Mở rộng hợp lý quy mô giáo dục đại học và tạo sự chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục đại học. Phát triển mạnh giáo dục nghề nghiệp, thực hiện phân luồng sau trung học cơ sở và liên thông trong hệ thống giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh, thiếu niên lựa chọn nhiều hình thức học tập và sau khi học xong trung học cơ sở và trung học phổ thông, học sinh có cơ hội được học nghề. Phát triển giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân và xây dựng xã hội học tập.
3. Đầu tư ngân sách cho giáo dục - đào tạo đảm bảo đạt tỷ lệ 20% tổng chi ngân sách nhà nước trước năm 2010 từ 2 đến 3 năm. Đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa chi lương và chi cho các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục để thực hiện tốt nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng thời tiếp tục ban hành các chính sách đồng bộ nhằm đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, huy động nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục. Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập các trường ngoài công lập và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các trường ngoài công lập.
4. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo; đặc biệt coi trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục thường xuyên tự học tập để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
5. Đổi mới toàn diện công tác quản lý nhà nước về giáo dục theo hướng phân công, phân cấp rõ trách nhiệm, quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cơ sở giáo dục, lấy việc quản lý chất lượng làm nhiệm vụ trọng tâm; củng cố tổ chức thanh tra và đẩy mạnh công tác thanh tra giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục hàng năm. Đổi mới thi đua trong giáo dục, khắc phục bệnh thành tích chủ nghĩa.
Bỏ kỳ thi tốt nghiệp tiểu học năm học 2004-2005, tiếp tục cải tiến công tác thi cử theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả, thiết thực.
6. Đẩy mạnh xây dựng nền nếp, kỷ cương trong dạy và học. Thực hiện đồng bộ các biện pháp để khắc phục và chấm dứt sự gian dối trong thi cử, làm luận văn, luận án, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, dạy thêm, học thêm tràn lan mang tính áp đặt, gây căng thẳng, mệt mỏi cho học sinh nhất là ở tiểu học và trung học cơ sở.
7. Thực hiện tốt hơn công bằng xã hội trong giáo dục, ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và giáo dục cho trẻ em khuyết tật.
Chính phủ triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết này.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban khác của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp giám sát việc thực hiện Nghị quyết này theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ sáu thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004.
| Nguyễn Văn An (Đã ký) |
- 1Thông báo số 109/TB-VPCP về việc ý kiến của Thủ tướng Phan Văn Khải Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Giáo dục tại phiên họp Hội đồng ngày 20 tháng 5 năm 2005 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2Chỉ thị 33/2006/CT-TTg về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Luật Giáo dục 1998
- 1Thông báo số 109/TB-VPCP về việc ý kiến của Thủ tướng Phan Văn Khải Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Giáo dục tại phiên họp Hội đồng ngày 20 tháng 5 năm 2005 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 3Chỉ thị 33/2006/CT-TTg về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Hiến pháp năm 1992
- 5Luật Giáo dục 1998
- 6Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003
- 7Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004
Nghị quyết số 37/2004/NQ-QH11 về giáo dục do Quốc Hội ban hành
- Số hiệu: 37/2004/NQ-QH11
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 03/12/2004
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Văn An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 17/01/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
