Nghị định 966-TTg được ban hành năm 1956 bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm ban hành kèm theo Bản điều lệ về việc dùng tín hiệu báo bão và gió mùa mạnh cho tàu thủy và thuyền bè hoạt động tại các vùng ven sông và ven biển trên lãnh thổ Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Điều lệ này áp dụng đối với tất cả các phương tiện tàu thủy, thuyền bè lưu thông trên các tuyến đường thủy nội địa (sông) và vùng biển (bể). Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Bộ Nông Lâm, Bộ Giao thông và Bưu điện, Bộ Quốc phòng, Nha Khí tượng Thủy văn, Ủy ban Hành chính các tỉnh, các đơn vị vận tải thủy, lực lượng quân đội, Cục Phòng thủ bờ đê và toàn thể nhân dân trong việc thực hiện, vận hành hệ thống tín hiệu cảnh báo thiên tai.
Quy chuẩn kỹ thuật về hình dáng, kích thước và cách bố trí tín hiệu
- Tín hiệu ban ngày: Được chế tạo bằng các vật liệu bền vững như gỗ, kim loại, mây hoặc tre và phải được sơn màu đen để đảm bảo khả năng nhận diện tốt nhất. Kích thước tiêu chuẩn được quy định cụ thể: Hình tròn có đường kính 1 mét; Hình tam giác có cạnh dưới và chiều cao là 1 mét; Hình vuông có mỗi cạnh dài 1 mét. Khi treo phối hợp, hai dấu hiệu hình tròn và hình tam giác phải cách nhau 2 phân tay; hai dấu hiệu hình vuông phải cách nhau 0,5 mét.
- Tín hiệu ban đêm: Sử dụng hệ thống đèn chiếu sáng với hai màu chủ đạo là màu đỏ và màu xanh lá cây. Khoảng cách lắp đặt giữa hai đèn xanh hoặc hai đèn đỏ phải đạt 3 tấc tay.
- Cột treo tín hiệu: Phải được dựng tại những vị trí cao ráo, dễ quan sát tại các cửa biển, bến sông. Chiều cao của cột treo tín hiệu phải đạt tối thiểu 15 mét so với mực nước. Hướng treo tín hiệu phải được tính toán thuận lợi nhất để tàu bè ra vào cửa biển, phương tiện di chuyển trên sông và cư dân xung quanh đều có thể nhìn thấy rõ ràng.
Quy trình vận hành, thay đổi và phối hợp tín hiệu
- Phối hợp tín hiệu: Tín hiệu báo sức mạnh của bão hoặc gió mùa mạnh (từ số 1 đến số 4) và tín hiệu báo thời gian xảy ra thiên tai (số 5 và số 6) bắt buộc phải được kéo lên cùng một lúc để cung cấp thông tin toàn diện.
- Chuyển đổi ngày và đêm: Việc thay đổi giữa tín hiệu ban ngày và tín hiệu ban đêm phải được thực hiện đồng bộ vào hai thời điểm cố định trong ngày là lúc mặt trời mọc và lúc mặt trời lặn. Do tín hiệu báo thời gian (số 5 và số 6) không áp dụng vào ban đêm, các trạm phải hạ các tín hiệu này xuống vào buổi chiều khi chuyển sang chế độ đèn đêm.
- Cập nhật trạng thái thời gian: Trong trường hợp ngày hôm trước đã treo tín hiệu số 5 (dự báo ngày mai thiên tai sẽ xảy ra), nếu thông tin dự báo thời tiết không thay đổi, thì vào sáng hôm sau khi chuyển sang tín hiệu ban ngày, trạm phải chủ động thay thế bằng tín hiệu số 6 (thiên tai xảy ra trong ngày hôm nay).
- Nguyên tắc hạ tín hiệu: Khi nhận được thông tin chính thức từ Nha Khí tượng Thủy văn xác nhận bão đã suy yếu hoặc gió mạnh đã qua đi, các trạm tín hiệu phải lập tức hạ các tín hiệu cảnh báo xuống theo đúng quy chuẩn hướng dẫn.
Trách nhiệm thông tin của Nha Khí tượng Thủy văn
- Ngưỡng cảnh báo: Khi xuất hiện bão hoặc gió mùa mạnh có tốc độ từ 30 km/h trở lên, Nha Khí tượng Thủy văn có trách nhiệm phát tin báo kịp thời đến các Trạm Tín hiệu thuộc vùng bị ảnh hưởng để kéo tín hiệu cảnh báo cho tàu bè và người dân chủ động phòng tránh. Khi thiên tai kết thúc hoặc không ảnh hưởng đến địa phương, cơ quan này phải thông báo ngay để các trạm hạ tín hiệu.
- Quy chuẩn công điện báo bão: Các tin báo gửi tới các Trạm Tín hiệu phải được soạn thảo dưới dạng công điện bằng chữ quốc ngữ mới. Nội dung công điện phải chỉ rõ số hiệu tín hiệu cần kéo hoặc hạ, kèm theo chữ kiểm soát để tránh sai sót. Mỗi công điện đều phải đánh số thứ tự và ký hiệu riêng biệt (ví dụ: Tin bão THA3, trong đó chữ "A" chỉ cơn bão đầu tiên trong năm, số "3" là bản tin thứ ba về cơn bão đó, và từ kiểm soát cuối cùng là tổng số hiệu của các tín hiệu cần kéo).
Thiết lập và quản lý hệ thống Trạm Tín hiệu
- Vị trí đặt trạm: Các Trạm Tín hiệu phải được ưu tiên bố trí tại những khu vực tập trung đông đảo phương tiện giao thông đường thủy như cửa biển, bến đò, cảng sông.
- Phân cấp quản lý: Bên cạnh các trạm do Nha Khí tượng Thủy văn trực tiếp thiết lập, Ủy ban Hành chính các tỉnh có quyền chủ động xây dựng và quản lý các trạm địa phương sau khi đã thống nhất về địa điểm với Nha Khí tượng Thủy văn. Các cơ quan vận tải thủy, ngành nông lâm, đơn vị quân đội và Cục Phòng thủ bờ đê cũng được phép tự thiết lập và trực tiếp vận hành các trạm tín hiệu riêng, tự đài thọ kinh phí hoạt động, nhưng phải đăng ký danh sách cụ thể với Nha Khí tượng Thủy văn và Tổng cục Bưu điện để phối hợp thông tin.
- Tích hợp nhiệm vụ: Tại những địa bàn cần đặt trạm tín hiệu mà đã có sẵn Trạm Khí tượng Thủy văn hoặc Trạm Khí tượng hoạt động, các trạm này sẽ trực tiếp kiêm nhiệm và chịu trách nhiệm thực hiện công tác báo tín hiệu bão.
Chế tài xử lý vi phạm pháp luật
Nhằm bảo đảm tính nghiêm minh và an toàn trong công tác phòng chống thiên tai, mọi hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc theo quy định tại Sắc lệnh số 267-SL ngày 16-6-1956. Các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
- Hành vi cố ý làm hư hỏng, phá hoại các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác báo bão như cột đèn, cột tín hiệu, các biển báo hiệu.
- Tự ý kéo lên hoặc hạ xuống các tín hiệu báo bão khi chưa có lệnh chính thức từ Nha Khí tượng Thủy văn hoặc thực hiện không đúng các quy trình, thể lệ đã được ban hành.
- Tự ý dựng cột, treo tín hiệu báo bão trái phép khi chưa được sự đồng ý của Nha Khí tượng Thủy văn hoặc các cơ quan có thẩm quyền quản lý trạm.
- Các hành vi phá hoại khác nhằm cản trở việc truyền tin bão, hoặc hành vi cố ý phao tin đồn nhảm, thông tin sai sự thật về thiên tai gây hoang mang, nhầm lẫn trong quần chúng nhân dân.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Thủ tướng Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ Nông Lâm, Bộ Giao thông và Bưu điện, Bộ Quốc phòng, Nha Khí tượng Thủy văn và Ủy ban Hành chính các tỉnh tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các nội dung của Điều lệ này đến toàn thể nhân dân, đồng thời khẩn trương triển khai thực hiện trên thực tế để kịp thời phục vụ công tác phòng, chống thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 966-TTg | Hà Nội, ngày 11 tháng 07 năm 1956 |
BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ VỀ VIỆC DÙNG TÍN HIỆU BÁO BÃO VÀ GIÓ MÙA MẠNH CHO TÀU THUỶ VÀ THUYỀN BÈ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Xét nhu cầu công tác hiện thời:theo đề nghị của Nha khí tượng Thuỷ Văn được các Bộ Nông lâm, Bộ Giao thông và Bưu điện, Bộ Quốc phòng đồng ý.
NGHỊ ĐỊNH:
|
| TL.THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
VỀ VIỆC DÙNG TÍN HIỆU BÃO GIÓ MẠNH VÀ BÃO CHO TÀU THUỶ VÀ THUYỀN BÈ Ở VEN SÔNG VÀ VEN BỂ
Các dấu hiệu này gọi là tín hiệu.
Điều 2.- Những trường hợp sau đây:
a) Bão nhỏ (gió không quá 70 cây số 1 giờ)
b) Bão lớn( gió trên 70 cây số 1 giờ)
c) Gió mùa mạnh (từ 30 đến 60 cây số giờ)
d) Gió mùa rất mạnh( trên 60 cây số giờ), đều được báo bằng một tín hiệu riêng.
Ý NGHĨA CÁC LOẠI TÍN HIỆU CÁCH LÀM VÀ SỮ DỤNG TÍN HIỆU
Điều 4.- Các tín hiệu đều dùng ban ngày đều làm bằng gỗ, kim loại, máy hoặc tre sơn đen.
Các tín hiệu ban đêm là đèn màu đỏ và màu xanh lá cây. Kích thước các tín hiệu thống nhất như sau:
- Hình tròn: đường kính là 1 mét.
- Hình tam giác: cạnh dưới và chiều cao là 1 mét.
- Hình vuông: mỗi cạnh là 1 mét.
Hai dấu hiệu của một tín hiệu là hình tròn và hình tam giác dùng ban ngày treo cách nhau hai phân tay.
Hai dấu hiệu của một hình vuông dùng ban ngày treo cách nhau một nữa mét.
Hai đèn xanh hay hai đèn đỏ dùng ban đêm treo cách nhau 3 tấc tay.
Tín hiệu phải treo vào một cây cột cao hơn mức nước ít nhất là 15 mét. Cột phải dựng ở chỗ cao và các thứ tín hiệu phải treo thuận hướng để tàu bè ra vào cửa bể, thuyền bè lên xuống trên sông hay dân cư ở xung quanh thấy và phân biệt được rõ ràng.
Điều 5.- Tín hiệu báo sức mạnh (từ 1 đến 4) và tín hiệu báo thời gian( 5 và 6) sẽ kéo cùng một lúc.
THÔNG BÁO TIN BÃO, GIÓ MÙA MẠNH
Thí dụ: NhaKhistwongj Thuyr.vawn gwir cac tramj tins hieeuj Doof-sown, Vachi, Cramphar – Tin bão THA3.
"Ngayf mai… owr vungf Hair-ninh, Hoongf-gai, Quangr-yeen sex cos baox lowns, Keos tins hieeuj 2 vaf 5 Bayr"
Giải thích: Tin bão THA3.
- Nhóm trường hợp có nghĩa là tin danh cho các trạm tín hiệu.
- Chữ A chỉ đây là cơn bão thứ nhất từ đầu năm(theo thứ tự mẫu tự la-tinh).
- Con số 3 là bản in thứ ba về cơn bão đó.
Chữ Bayr cuối công điện là số cộng hai số hiệu tín hiệu, nó dùng để kiểm soát 2 số đó.
TRẠM TÍN HIỆU - TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ.
Các cơ quan Vận tải thuỷ, Nông lâm, đơn vị bộ đội, Cục Phòng thủ bờ đê có thể đặt một hoặc nhiều Trạm tín hiệu và trực tiếp phụ trách. Danh sách các Trạm tín hiệu phải báo cho Nha khí tượng Thuỷ văn và Tổng Cục Bưu điện biết để báo tin. Các khoản chi của Trạm sẽ do cơ quan quản lý đài thọ.
- Làm hư hỏng các dụng cụ dùng để báo bão (cột đèn, tín hiệu...)
- Kéo lên và hạ xuống các tín hiệu bao bão không có lệnh của Nha khí tượng Thuỷ văn và không đúng các thể lệ quy định trên đây.
- Tự ý dựng cột, treo tín hiệu báo bão mà không có lệnh của Nha khí tượng Thuỷ văn hay của các cơ quan định ở điều 14 trên đây, hoặc có những hành động phá hoại khác nhằm mục đích ngăn trở việc báo tin bão, đồn tin nhãm để gây hoang man, sự nhầm lẫn trong nhân dân.
Sẽ bị trừng phạt theo sắc lệnh số 267-SL ngày 16-6-1956.
- 1Thông tư 64-TTg năm 1962 quy định thể lệ về việc báo bão do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.
- 2Thông tư 933-TTg năm 1956 về nhiệm vụ báo tin bão do Phủ Thủ Tướng ban hành.
- 3Thông tư 235-TTg năm 1957 quy định thể lệ về việc báo bão do Phủ Thủ tướng ban hành
- 4Quyết định 581-TTg năm 1997 về Quy chế báo bão, lũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Thông tư 64-TTg năm 1962 quy định thể lệ về việc báo bão do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.
- 2Thông tư 933-TTg năm 1956 về nhiệm vụ báo tin bão do Phủ Thủ Tướng ban hành.
- 3Thông tư 235-TTg năm 1957 quy định thể lệ về việc báo bão do Phủ Thủ tướng ban hành
- 4Quyết định 581-TTg năm 1997 về Quy chế báo bão, lũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định 966-TTg năm 1956 về bản điều lệ về việc dùng tín hiệu báo bão và gió mùa mạnh cho tàu thuỷ và thuyền bè do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 966-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 11/07/1956
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phan Mỹ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 21
- Ngày hiệu lực: 26/07/1956
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
