Nghị định 80-CP được ban hành năm 1964 bởi Hội đồng Chính phủ nhằm quy định thống nhất chế độ tặng cờ, thưởng tiền và hiện vật cho các cá nhân, đơn vị có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với tất cả các cá nhân và đơn vị có thành tích thi đua thuộc các ngành công nghiệp, nông nghiệp, sự nghiệp hành chính, các xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh, các cơ quan hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang, công an, và các hợp tác xã trên phạm vi cả nước.
Hệ thống các loại cờ thi đua và tiêu chuẩn khen thưởng
Nhà nước thiết lập hệ thống gồm ba loại cờ thi đua chính để tặng thưởng cho các đơn vị xuất sắc:
- Cờ luân lưu của Chính phủ: Có kích thước 1m x 0,80m, nền đỏ, chữ vàng, viền rua vàng với dòng chữ "Đơn vị dẫn đầu thi đua ngành..." kèm niên hiệu kế hoạch dài hạn. Cờ do Thủ tướng Chính phủ tặng cho đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của từng ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng. Cờ được xét thưởng luân lưu hàng năm; đến cuối kỳ kế hoạch dài hạn, đơn vị giữ cờ nhiều lần nhất hoặc giữ cờ năm cuối cùng sẽ được sở hữu vĩnh viễn. Mỗi lần nhận cờ, đơn vị được thưởng kèm 1.000 đồng bằng tiền mặt hoặc hiện vật từ ngân sách Nhà nước.
- Cờ tổng kết thi đua của các ngành và địa phương: Có kích thước 0,80m x 0,60m, ghi chữ "Đơn vị thi đua xuất sắc ngành hoặc địa phương..." và năm tặng thưởng. Cờ do Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ hoặc Ủy ban hành chính cấp khu, thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh quyết định trao tặng sau khi thống nhất với Ban Thi đua trung ương. Mức tiền thưởng kèm theo cờ cấp Bộ tối đa là 500 đồng, cấp tỉnh/khu tối đa là 300 đồng.
- Cờ danh hiệu thi đua: Có kích thước 0,40m x 0,30m, ghi chữ "Tổ hoặc đội, phân xưởng, đơn vị lao động xã hội chủ nghĩa" và năm đạt danh hiệu. Cờ do Thủ tướng Chính phủ hoặc người được ủy quyền trao tặng cho các tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa.
- Cờ cấp cơ sở: Các cơ quan, xí nghiệp, huyện, xã có thể dùng cờ hình đuôi nheo (nhỏ hơn cờ danh hiệu thi đua) để khen thưởng các đơn vị, tổ chức cơ sở trực thuộc.
Chế độ thưởng tiền mặt và hiện vật cho các cá nhân
Mức thưởng cho các cá nhân và danh hiệu thi đua định kỳ hàng năm được quy định cụ thể như sau:
- Anh hùng lao động: Thưởng 150 đồng cho mỗi lần được tuyên dương.
- Chiến sĩ thi đua: Thưởng mỗi năm một lần với mức cao nhất là 25 đồng.
- Lao động tiên tiến: Thưởng hai lần trong năm, mức thưởng tối đa mỗi lần là 8 đồng.
- Tổ viên tổ lao động xã hội chủ nghĩa: Thưởng mỗi năm một lần với mức 7 đồng.
- Tổ viên tổ tiên tiến: Thưởng hai lần trong năm, mức thưởng tối đa mỗi lần là 1,50 đồng.
Tiền thưởng cụ thể cho các danh hiệu chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến và tổ viên tổ tiên tiến do thủ trưởng cơ quan, cơ sở quyết định dựa trên quỹ thi đua của đơn vị và được trao ngay sau khi công bố quyết định khen thưởng.
Nguồn kinh phí và phương thức trích lập quỹ thi đua
Nguồn tiền thưởng thi đua được phân định rõ ràng theo từng nhóm đối tượng và loại hình đơn vị:
- Kinh phí do Ngân sách Nhà nước đài thọ: Chi trả cho tiền thưởng kèm theo Cờ luân lưu của Chính phủ, tiền thưởng danh hiệu Anh hùng lao động, và tiền thưởng cho tổ viên tổ lao động xã hội chủ nghĩa tại các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, cơ quan hành chính sự nghiệp.
- Kinh phí trích từ ngân sách cơ quan, địa phương: Chi trả cho tiền thưởng kèm theo cờ tổng kết thi đua của các Bộ, ngành và Ủy ban hành chính cấp tỉnh, khu theo hạn mức dự toán hàng năm của Bộ Tài chính.
- Kinh phí trích từ Quỹ xí nghiệp hoặc dự toán ngành: Chi trả cho các danh hiệu lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, tổ viên tổ hoặc đội tiên tiến.
Quy định trích quỹ thi đua tại các xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh
Việc trích lập quỹ thưởng thi đua hàng năm tại các xí nghiệp được thực hiện theo các nguyên tắc:
- Đối với xí nghiệp hạch toán kinh tế hoàn thành kế hoạch: Trích từ quỹ xí nghiệp theo chế độ chung do Chính phủ ban hành.
- Đối với xí nghiệp chưa hạch toán kinh tế hoàn thành nhiệm vụ: Được trích tiền thưởng tính bình quân trên đầu người trong danh sách (gồm cả nhân sự trong biên chế và ngoài biên chế đã làm việc từ một năm trở lên) theo các mức: Hoàn thành kế hoạch trích 4 đồng/người; Hoàn thành vượt mức kế hoạch trích 5 đồng/người; Hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch trích 6 đồng/người.
- Đối với xí nghiệp không hoàn thành kế hoạch: Chỉ được trích tiền thưởng thi đua bình quân 3 đồng/người theo tổng số cán bộ, công nhân, viên chức trong danh sách.
Quy định trích quỹ thi đua tại các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp
Mức trích quỹ thi đua hàng năm dựa trên tổng số nhân sự (gồm cả biên chế và ngoài biên chế đã làm việc từ một năm trở lên) được quy định:
- Các bộ phận hành chính, sự nghiệp và trường mẫu giáo, vỡ lòng thuộc Nhà nước quản lý: Trích bình quân 1 đồng/người/năm.
- Các bộ phận nghiên cứu kỹ thuật, khảo sát, thăm dò, sản xuất, bệnh viện và trường học từ cấp I trở lên: Trích bình quân 2 đồng/người/năm (tính cả giáo viên dân lập tại các trường phổ thông).
Thủ trưởng các cơ quan căn cứ vào tổng quỹ tiền thưởng này để quyết định mức thưởng cụ thể cho từng cá nhân và chi tiêu cho các hoạt động khen thưởng, liên hoan tập thể.
Phân công trách nhiệm xây dựng quy chế đặc thù và hướng dẫn thi hành
Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ cho các cơ quan trung ương xây dựng các quy định chi tiết phù hợp với từng lĩnh vực:
- Bộ Nông nghiệp: Nghiên cứu trình Chính phủ ban hành chế độ thưởng thi đua áp dụng cho các hợp tác xã nông nghiệp.
- Bộ Công nghiệp nhẹ phối hợp với Ban Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp trung ương: Nghiên cứu trình Chính phủ quy định chế độ thưởng thi đua cho các hợp tác xã thủ công nghiệp.
- Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh: Nghiên cứu trình Chính phủ quy định chế độ thưởng thi đua cho cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ.
- Bộ Công an: Nghiên cứu trình Chính phủ quy định chế độ thưởng thi đua cho lực lượng Công an nhân dân và Công an vũ trang.
- Bộ Tài chính: Chịu trách nhiệm hướng dẫn các ngành, địa phương lập dự toán và quyết toán kinh phí tiền thưởng thi đua.
- Ban Thi đua trung ương: Chịu trách nhiệm giải thích và hướng dẫn chi tiết việc thi hành Nghị định này.
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả các quy định về thưởng thi đua trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Trưởng ban Thi đua trung ương, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban hành chính các khu, thành phố, tỉnh chịu trách nhiệm thi hành văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 80-CP | Hà Nội, ngày 13 tháng 05 năm 1964 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Để thống nhất và cải tiến chế độ thưởng cá nhân và tập thể được tặng danh hiệu thi đua, nhằm tăng cường khuyến khích bằng lợi ích vật chất, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước;
Căn cứ vào bản điều lệ quy định các danh hiệu và tiêu chuẩn thi đua do Nghị định số 104-CP ngày 18 tháng 7 năm 1963 của Hội đồng Chính phủ đã ban hành;
Căn cứ đề nghị của Ban Thi đua trung ương, của Bộ Lao động, Bộ Tài chính và Tổng Công đoàn Việt Nam;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 26 tháng 12 năm 1963.
NGHỊ ĐỊNH:
1. Cờ luân lưu của Chính phủ.
2. Cờ tổng kết thi đua của các ngành (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ), cờ tổng kết thi đua của các địa phương (khu, thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh).
3. Cờ danh hiệu thi đua.
Ngoài những loại cờ trên, các cơ quan, xí nghiệp có thể dùng cờ để tặng thưởng những đơn vị, tổ chức cơ sở có thành tích thi đua, theo quy định trong điều 3 dưới đây.
- Cờ luân lưu của Chính phủ kích thước 1m x 0,80 và chữ đề như sau: Đơn vị dẫn đầu thi đua ngành… và niên hiệu kế hoạch dài hạn của Nhà nước;
- Cờ tổng kết thi đua của các ngành, các địa phương kích thước 0m80 x 0m60 và chữ đề ra như sau: Đơn vị thi đua xuất sắc ngành hoặc địa phương… và ghi năm được tặng thưởng;
- Cờ danh hiệu thi đua kích thước 0m40 x 0m30 và chữ đề ra như sau: Tổ hoặc đội, phân xưởng, đơn vị lao động xã hội chủ nghĩa và năm được tặng danh hiệu;
- Cờ do các cơ quan, xí nghiệp, địa phương huyện, xã dùng để tặng thưởng những đơn vị, tổ chức cơ sở là cờ hình đuôi nheo, nhỏ hơn cờ danh hiệu thi đua
Mỗi ngành công tác sẽ được nhận một cờ luân lưu của Chính phủ để làm giải thưởng luân chuyển cho các đơn vị sản xuất và công tác trong ngành. Trường hợp đặc biệt, Chính phủ có thể cấp thêm cờ luân lưu theo đề nghị của Ban Thi đua trung ương và cơ quan chủ quản trung ương.
Cờ luân lưu của Chính phủ sẽ thưởng luân lưu hàng năm, sau đợt tổng kết thi đua của mỗi ngành hoạt động. Cuối kế hoạch dài hạn, đơn vị nào đã hoàn thành kế hoạch dài hạn và kế hoạch năm cuối cùng của kế hoạch dài hạn và đã được giữ cờ nhiều lần nhất hoặc được giữ cờ năm cuối cùng của kế hoạch dài hạn (nếu không có đơn vị nào đã đã được giữ cờ nhiều lần) sẽ được giữ hẳn cờ.
Đơn vị được tặng cờ luân lưu của Chính phủ mỗi lần sẽ được thưởng theo cờ 1.000 đồng bằng tiền mặt hoặc hiện vật.
Việc trao tặng cờ tổng kết thi đua của các ngành, các địa phương do thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Ủy ban hành chính khu, thành, tỉnh quyết định sau khi được sự đồng ý của Ban thi đua trung ương.
Đơn vị được tặng cờ tổng kết thi đua hoặc thưởng một số tiền hoặc hiện vật do cơ quan tặng cờ quyết định. Số tiền tặng theo cờ tổng kết thi đua của Bộ, cơ quan ngang Bộ,cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ cao nhất là 500 đồng; số tiền tặng theo cờ tổng kết thi đua của Ủy ban hành chính khu, thành, tỉnh cao nhất là 300 đồng. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Ủy ban hành chính khu, thành, tỉnh căn cứ vào số tiền thưởng của ngành và địa phương và số lượng cờ sẽ tặng mà quyết định mức tiền thưởng cho thích hợp.
1. Anh hùng lao động, mỗi lần tuyên dương thưởng 150đ.
2. Chiến sĩ thi đua, mỗi năm thưởngmột lần,mức cao nhất 25đ.
3. Lao động tiên tiến, mỗi năm thưởng hai lần, mỗi lần mức cao nhất 8đ.
4. Tổ viên tổ lao động xã hội chủ nghĩa, mỗi năm thưởng một lần 7đ.
5. Tổ viên tổ tiên tiến, mỗi năm thưởng hai lần, mỗi lần mức cao nhất 1đ50.
Tiền thưởng cụ thể cho chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến, tổ viên tổ tiên tiến trong tất cả các ngành thì do thủ trưởng các cơ quan, cơ sở quyết định hàng năm, tùy theo khả năng số tiền thưởng trong quỹ xí nghiệp và kinh phí được cấp.
Tiền thưởng trao cho người được thưởng ngay sau mỗi khi công bố việc công nhận danh hiệu thi đua.
Tiền thưởng tặng theo cờ tổng kết thi đua của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Ủy ban hành chính khu, thành, tỉnh thì trích trong kinh phí của cơ quan và địa phương liên quan, trong phạm vi số tiền được phép dự trù hàng năm về việc này theo quy định của Bộ Tài chính.
Tiền thưởng cho lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, tổ viên tổ và đội tiên tiến trong các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, cơ quan hành chính sự nghiệp được trích trong quỹ xí nghiệp, hoặc được trích trong dự trù kinh phí của mỗi ngành.
a) Ở các xí nghiệp đã hạch toán kinh tế và được Nhà nước công nhận hoàn thành kế hoạch thì trích trong quỹ xí nghiệp số tiền dành cho việc thưởng thi đua theo chế độ mà Chính phủ ban hành.
b) Các xí nghiệp chưa hạch toán kinh tế nhưng được ngành chủ quản hoặc Ủy ban hành chính địa phương xác nhận hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hàng năm, thì được trích tiền thưởng thi đua tính bình quân đầu người hàng năm từ 4 đồng đến 6 đồng, tùy theo mức hoàn thành kế hoạch và tính theo tổng số cán bộ, công nhân, viên chức trong danh sách của xí nghiệp (kể cả trong biên chế và ngoài biên chế đã làm việc được một năm). Mức tiền thưởng cụ thể cho từng trường hợp hoàn thành kế hoạch tính như sau:
- Hoàn thành kế hoạch 4 đồng,
- Hoàn thành vượt mức kế hoạch5 đồng,
- Hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch6 đồng.
c) Các xí nghiệp không hoàn thành kế hoạch Nhà nước thì được trích tiền thưởng thi đua tính bình quân đầu người hàng năm 3 đồng và tính theo tổng số cán bộ, công nhân, viên chức trong danh sách của xí nghiệp (kể cả trong biên chế và ngoài biên chế đã làm việc được một năm).
a) Các bộ phận sự nghiệp và hành chính trong cơ quan, các trường lớp mẫu giáo vỡ lòng thuộc Nhà nước quản lý, thì được hưởng tiền thưởng thi đua tính bình quân đầu người hàng năm một đồng và tính theo tổng số cán bộ, công nhân, viên chức trong danh sách của đơn vị (kể cả trong biên chế và ngoài biên chế đã làm việc được một năm).
b) Các bộ phận nghiên cứu kỹ thuật, khảo sát, thăm dò, sản xuất trong cơ quan hành chính, các bệnh viện, các trường học từ phổ thông cấp I trở lên thì hưởng tiền thưởng thi đua tính bình quân đầu người hàng năm là 2 đồng và tính theo tổng số cán bộ, công nhân, viên chức trong danh sách của cơ quan, (kể cả số ngoài biên chế và giáo viên dân lập trong các trường phổ thông).
Căn cứ vào tổng số tiền thưởng và số lượng người được thưởng của đơn vị, thủ trưởng các cơ quan định mức tiền thưởng cho thích hợp và sử dụng số tiền đó để chi tiêu cho mọi khoản như khen thưởng, liên hoan…
Điều 11. - Dựa vào những nguyên tắc trên đây.
- Bộ Nông nghiệp nghiên cứu trình Chính phủ quy định chế độ thưởng thi đua cho các hợp tác xã nông nghiệp;
- Bộ Công nghiệp nhẹ phối hợp với Ban Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp trung ương nghiên cứu trình Chính phủ quy định chế độ thưởng thi đua cho các hợp tác xã thủ công nghiệp;
- Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh nghiên cứu trình Chính phủ quy định chế độ thưởng thi đua cho cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ;
- Bộ Công an nghiên cứu trình Chính phủ quy định chế độ thưởng thi đua cho Công an nhân dân và Công an vũ trang;
- Ban Thi đua trung ương giải thích và hướng dẫn việc thi hành nghị định này.
| TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
- 1Thông tư 07-TT-TĐ-1964 về việc định phương hướng, nội dung, danh hiệu và tiêu chuẩn thi đua, đẩy mạnh tổ chức và lãnh đạo thi đua trong ngành thể dục thể thao trong cao trào "thi đua mỗi người làm việc bằng hai" do Ủy ban thể dục thể thao ban hành
- 2Quyết định 319-CT năm 1988 về việc uỷ nhiệm xét quyết định thưởng cờ thi đua luân lưu của Hội đồng Bộ trưởng hàng năm do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Nghị định 56/1998/NĐ-CP quy định các hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, cụ thể hoá tiêu chuẩn khen thưởng huân chương lao động
- 4Thông tư 835-TĐ-1973 bổ sung việc thi hành chế độ tặng các loại cờ thi đua do Ban Thi đua trung ương ban hành
- 1Nghị định 104-CP năm 1963 ban hành điều lệ quy định các danh hiệu và tiêu chuẩn thi đua do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư 18-TC-VP-1964 thi hành Nghị định 80-CP-1964 hướng dẫn việc làm dự trừ, sử dụng kính phí và quyết toán chỉ tiêu về khen thưởng thi đua do Bộ Tài Chính ban hành
- 3Thông tư 07-TT-TĐ-1964 về việc định phương hướng, nội dung, danh hiệu và tiêu chuẩn thi đua, đẩy mạnh tổ chức và lãnh đạo thi đua trong ngành thể dục thể thao trong cao trào "thi đua mỗi người làm việc bằng hai" do Ủy ban thể dục thể thao ban hành
- 4Quyết định 319-CT năm 1988 về việc uỷ nhiệm xét quyết định thưởng cờ thi đua luân lưu của Hội đồng Bộ trưởng hàng năm do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Thông tư 835-TĐ-1973 bổ sung việc thi hành chế độ tặng các loại cờ thi đua do Ban Thi đua trung ương ban hành
Nghị định 80-CP năm 1964 về chế độ thưởng thi đua do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 80-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 13/05/1964
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Lê Thanh Nghị
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 15
- Ngày hiệu lực: 13/05/1964
- Ngày hết hiệu lực: 14/08/1998
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
