Nghị định số 77/2008/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm điều chỉnh các hoạt động tư vấn pháp luật mang tính chất xã hội, không vì mục đích lợi nhuận, góp phần phổ biến giáo dục pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức chủ quản bao gồm tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật có nhu cầu thành lập và vận hành tổ chức tư vấn pháp luật. Hoạt động tư vấn pháp luật theo quy định tại đây mang tính chất xã hội sâu sắc và hoàn toàn không nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tư vấn pháp luật
Để bảo đảm tính khách quan và thượng tôn pháp luật, Nghị định nghiêm cấm các hành vi sau:
- Đối với tổ chức và người thực hiện tư vấn: Xúi giục khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện trái pháp luật; lợi dụng hoạt động tư vấn để trục lợi cá nhân; gây mất trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích Nhà nước hoặc quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân; tư vấn cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc; tiết lộ thông tin vụ việc khi chưa được sự đồng ý của khách hàng.
- Đối với khách hàng và bên liên quan: Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người tư vấn; cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai lệch; cản trở hoạt động tư vấn pháp luật hợp pháp.
Điều kiện thành lập và địa vị pháp lý của Trung tâm tư vấn pháp luật
- Điều kiện thành lập: Trung tâm phải có ít nhất hai tư vấn viên pháp luật, hoặc một tư vấn viên và một luật sư hành nghề cá nhân, hoặc hai luật sư hành nghề cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động. Đồng thời, Trung tâm phải có trụ sở làm việc cố định và rõ ràng.
- Địa vị pháp lý: Trung tâm tư vấn pháp luật có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng theo quy định. Cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động do tổ chức chủ quản quyết định. Giám đốc Trung tâm bắt buộc phải là tư vấn viên pháp luật hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động.
Phạm vi hoạt động, quyền và nghĩa vụ của Trung tâm
- Phạm vi hoạt động: Được thực hiện tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực; cử luật sư làm việc theo hợp đồng tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng đối với vụ việc Trung tâm đã tư vấn; thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật.
- Quyền hạn: Yêu cầu cơ quan, tổ chức liên quan cung cấp thông tin cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng; kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề liên quan đến vụ việc tư vấn.
- Nghĩa vụ: Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về tư vấn, luật sư và trợ giúp pháp lý; chịu trách nhiệm quản lý nhân sự (tư vấn viên, luật sư, cộng tác viên); báo cáo định kỳ hoặc đột xuất cho Sở Tư pháp và tổ chức chủ quản; bồi thường thiệt hại nếu lỗi do nhân sự của Trung tâm gây ra trong quá trình tư vấn.
Cơ chế tài chính và thù lao tư vấn
- Kinh phí hoạt động: Hoạt động theo cơ chế tự trang trải tài chính. Nguồn thu bao gồm kinh phí thường xuyên từ tổ chức chính trị - xã hội chủ quản, kinh phí hỗ trợ từ hoạt động trợ giúp pháp lý, thù lao thu từ khách hàng, và các khoản tài trợ hợp pháp từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Tư vấn miễn phí: Bắt buộc thực hiện tư vấn miễn phí cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức chủ quản. Nhà nước khuyến khích tư vấn miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách ưu đãi.
- Thu thù lao: Được phép thu thù lao đối với các đối tượng khác để bù đắp chi phí hoạt động. Mức thù lao do tổ chức chủ quản quyết định và phải được niêm yết công khai tại trụ sở Trung tâm.
Thủ tục thành lập, đăng ký hoạt động và chi nhánh
- Thành lập: Người đứng đầu tổ chức chủ quản ra quyết định thành lập, xác định rõ tên gọi (phải chứa cụm từ "Trung tâm tư vấn pháp luật" kèm tên tổ chức chủ quản), mục đích, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động.
- Đăng ký hoạt động: Thực hiện tại Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở. Hồ sơ gồm đơn đăng ký, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm Giám đốc, dự thảo quy chế hoạt động, danh sách nhân sự và giấy tờ chứng minh trụ sở. Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động và Thẻ tư vấn viên pháp luật trong vòng 7 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
- Chi nhánh: Các Trung tâm thuộc tổ chức cấp trung ương, cấp ngành hoặc cơ sở đào tạo/nghiên cứu được phép lập chi nhánh trên toàn quốc. Trung tâm cấp tỉnh chỉ được lập chi nhánh trong phạm vi tỉnh đó. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc, phải có ít nhất một tư vấn viên hoặc luật sư làm việc và phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp sở tại.
- Chấm dứt hoạt động: Trung tâm chấm dứt hoạt động theo quyết định của tổ chức chủ quản hoặc khi bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động. Trong vòng 60 ngày trước khi chấm dứt, phải hoàn tất thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động và giải quyết dứt điểm các vụ việc đã nhận.
Quy định về người thực hiện tư vấn pháp luật
Lực lượng thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm tư vấn viên pháp luật, luật sư hành nghề cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động và cộng tác viên tư vấn pháp luật.
- Tiêu chuẩn tư vấn viên pháp luật: Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phẩm chất đạo đức tốt, không có án tích chưa được xóa; có bằng Cử nhân luật và có thời gian công tác pháp luật từ 3 năm trở lên. Công chức đang làm việc tại cơ quan hành chính nhà nước, Tòa án, Viện kiểm sát không được cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật.
- Cấp và thu hồi Thẻ tư vấn viên: Sở Tư pháp cấp thẻ đồng thời với việc cấp Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm. Thẻ bị thu hồi nếu tư vấn viên không còn đủ tiêu chuẩn, được tuyển dụng làm công chức ngành hành chính/tòa án/kiểm sát, hoặc vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm.
- Cộng tác viên tư vấn pháp luật: Phải đáp ứng tiêu chuẩn về đạo đức và có bằng Cử nhân luật. Đối với vùng đặc biệt khó khăn, miền núi, người có bằng trung cấp luật hoặc có uy tín, kiến thức pháp luật cũng có thể làm cộng tác viên. Cán bộ, công chức được làm cộng tác viên nếu không trái với pháp luật về cán bộ, công chức. Cộng tác viên chỉ được nhận vụ việc thông qua Trung tâm hoặc Chi nhánh.
- Quyền và nghĩa vụ của người tư vấn: Thực hiện tư vấn trong phạm vi cho phép; được bồi dưỡng nghiệp vụ và hưởng thù lao; chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung tư vấn và bồi hoàn thiệt hại nếu có lỗi gây ra thiệt hại.
Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm
- Bộ Tư pháp: Chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, tổng kết kinh nghiệm và hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho người thực hiện tư vấn pháp luật trên phạm vi cả nước.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp: Thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm tại địa phương. Sở Tư pháp trực tiếp cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm/Chi nhánh và Thẻ tư vấn viên pháp luật.
- Tổ chức chủ quản: Quản lý trực tiếp về tổ chức và hoạt động của Trung tâm, Chi nhánh do mình thành lập.
- Xử lý vi phạm: Cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của Nghị định này tùy theo mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành
Nghị định số 77/2008/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Nghị định này thay thế hoàn toàn Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật. Các Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật đã được cấp theo Nghị định số 65/2003/NĐ-CP vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 77/2008/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 16 tháng 07 năm 2008 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật (sau đây gọi chung là tổ chức chủ quản).
Hoạt động tư vấn pháp luật quy định tại Nghị định này mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Điều 2. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chủ quản trong hoạt động tư vấn pháp luật
1. Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khuyến khích, hỗ trợ phát triển tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật; phối hợp với tổ chức chủ quản trong quản lý về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật theo quy định của Nghị định này.
2. Tổ chức chủ quản chịu trách nhiệm về tổ chức, hoạt động của tổ chức tư vấn pháp luật do mình thành lập.
Điều 3. Hình thức tổ chức tư vấn pháp luật
Tổ chức chủ quản có đủ điều kiện theo quy định tại
Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Nghiêm cấm tổ chức tư vấn pháp luật, người thực hiện tư vấn pháp luật thực hiện các hành vi sau đây:
a) Xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật;
b) Lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật để trục lợi;
c) Lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;
d) Tư vấn pháp luật cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc, tiết lộ thông tin về vụ việc, về cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tư vấn pháp luật thực hiện các hành vi sau đây:
a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện tư vấn pháp luật;
b) Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc;
c) Cản trở hoạt động tư vấn pháp luật.
Điều 5. Điều kiện thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Có ít nhất hai tư vấn viên pháp luật hoặc tư vấn viên pháp luật và một luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hai luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động.
2. Có trụ sở làm việc của Trung tâm.
Điều 6. Địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức của Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Trung tâm tư vấn pháp luật có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Việc khắc và sử dụng con dấu của Trung tâm tư vấn pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu.
2. Cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật do tổ chức chủ quản quyết định.
3. Giám đốc của Trung tâm tư vấn pháp luật phải là tư vấn viên pháp luật hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động.
Điều 7. Phạm vi hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật
2. Trung tâm tư vấn pháp luật được nhận và thực hiện vụ việc trong tất cả các lĩnh vực pháp luật.
Điều 8. Quyền, nghĩa vụ của Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Trung tâm tư vấn pháp luật có các quyền sau đây:
a) Thực hiện vụ việc theo phạm vi quy định tại
b) Đề nghị cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin về những vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật;
c) Kiến nghị với cơ quan nhà nước về những vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật.
2. Trung tâm tư vấn pháp luật có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân theo quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan của pháp luật về luật sư, trợ giúp pháp lý;
b) Chịu trách nhiệm về việc sử dụng tư vấn viên pháp luật, luật sư, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm;
d) Bồi thường thiệt hại do lỗi của tư vấn viên pháp luật, luật sư, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm gây ra trong khi thực hiện tư vấn pháp luật.
Điều 9. Kinh phí hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật
Trung tâm tư vấn pháp luật hoạt động theo cơ chế tự trang trải về tài chính. Nguồn kinh phí hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật gồm:
1. Kinh phí để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật được bố trí trong kinh phí hoạt động thường xuyên của tổ chức chính trị - xã hội đối với Trung tâm tư vấn pháp luật do tổ chức chính trị - xã hội thành lập;
2. Kinh phí được cấp từ việc thực hiện trợ giúp pháp lý đối với Trung tâm tư vấn pháp luật đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
3. Thù lao thu được từ hoạt động tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức theo quy định tại
4. Các khoản hỗ trợ của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật được trích từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp; các khoản tài trợ của cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài hỗ trợ cho hoạt động tư vấn pháp luật theo quy định của pháp luật.
Điều 10. Tư vấn pháp luật miễn phí
Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức chủ quản.
Nhà nước khuyến khích Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo và các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.
Điều 11. Tư vấn pháp luật có thu thù lao
1. Ngoài hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí cho các đối tượng quy định tại
2. Việc thu thù lao của Trung tâm tư vấn pháp luật do tổ chức chủ quản quyết định. Trong trường hợp Trung tâm tư vấn pháp luật được thu thù lao thì tổ chức chủ quản có trách nhiệm quy định về mức thù lao.
3. Trung tâm tư vấn pháp luật có trách nhiệm niêm yết mức thù lao tại trụ sở của Trung tâm và chấp hành quy định của pháp luật về tài chính.
Điều 12. Thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Tổ chức chủ quản ra Quyết định thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật Quyết định thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật do người đứng đầu tổ chức chủ quản ký và có nội dung chính sau đây:
a) Tên gọi của Trung tâm tư vấn pháp luật;
b) Mục đích, nhiệm vụ của Trung tâm tư vấn pháp luật;
c) Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật.
2. Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp cấp trung ương, cấp ngành được thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật trong phạm vi cả nước.
Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện được thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật trong phạm vi địa phương mình.
Cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành được thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi đặt trụ sở của cơ sở đó.
3. Tên gọi của Trung tâm tư vấn pháp luật phải bao gồm cụm từ “Trung tâm tư vấn pháp luật” và thể hiện được tên của tổ chức chủ quản. Trong trường hợp một tổ chức chủ quản thành lập từ hai Trung tâm tư vấn pháp luật trở lên, thì tên gọi của các Trung tâm này phải có sự phân biệt với nhau.
Điều 13. Đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luậtSửa đổi, bổ sung
1. Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp, nơi đặt trụ sở của Trung tâm.
Hồ sơ đăng ký hoạt động gồm có:
a) Đơn đăng ký hoạt động;
b) Quyết định của tổ chức chủ quản về việc thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật; về việc cử Giám đốc của Trung tâm tư vấn pháp luật;
c) Dự thảo quy chế tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn do tổ chức chủ quản ban hành;
d) Danh sách kèm theo hồ sơ của người được đề nghị cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật, của luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm;
đ) Giấy tờ xác nhận về trụ sở.
2. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm cấp Giấy đăng ký hoạt động cho trung tâm tư vấn pháp luật; trong trường hợp từ chối, phải thông báo lý do bằng văn bản cho người làm đơn.
3. Khi cấp Giấy đăng ký hoạt động cho Trung tâm tư vấn pháp luật, Sở Tư pháp đồng thời cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật cho người đủ tiêu chuẩn quy định tại
Bộ Tư pháp quy định mẫu Giấy đăng ký hoạt động, Thẻ tư vấn viên pháp luật.
4. Trung tâm tư vấn pháp luật được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động.
Điều 14. Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp cấp trung ương, cấp ngành, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật được đặt Chi nhánh trong phạm vi cả nước.
Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp cấp tỉnh được đặt Chi nhánh trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi đặt trụ sở của tổ chức chủ quản.
2. Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật (sau đây gọi tắt là Chi nhánh) là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm. Chi nhánh được thực hiện tư vấn pháp luật trong phạm vi hoạt động của Trung tâm. Trung tâm tư vấn pháp luật phải chịu trách nhiệm về hoạt động của Chi nhánh.
3. Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật có con dấu để giao dịch.
Việc khắc và sử dụng con dấu của Chi nhánh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu.
4. Chi nhánh phải có ít nhất một tư vấn viên pháp luật hoặc một luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc cho Chi nhánh. Trung tâm tư vấn pháp luật cử một tư vấn viên pháp luật hoặc một luật sư làm Trưởng Chi nhánh.
5. Chi nhánh thực hiện đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp, nơi đặt trụ sở của Chi nhánh.
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động của Chi nhánh, Trung tâm tư vấn pháp luật phải thông báo bằng văn bản về việc đặt Chi nhánh cho Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động của Trung tâm.
Điều 15. Thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh
Trong trường hợp thay đổi trụ sở, Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh, tư vấn viên pháp luật, luật sư, thì Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động.
Điều 16. Chấm dứt hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh
1. Trung tâm tư vấn pháp luật chấm dứt hoạt động trong những trường hợp sau đây:
a) Theo quyết định của tổ chức chủ quản;
b) Bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động.
Trước thời điểm chấm dứt hoạt động, Trung tâm tư vấn pháp luật phải làm thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với luật sư, cộng tác viên và nhân viên của Trung tâm; thực hiện xong các vụ việc mà Trung tâm đã nhận. Trong trường hợp không thể thực hiện xong vụ việc thì Trung tâm phải thỏa thuận với cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật về việc xử lý vụ việc đó.
Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động, Trung tâm tư vấn pháp luật phải làm thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với luật sư, cộng tác viên và nhân viên của Trung tâm; thực hiện xong các vụ việc mà Trung tâm đã nhận. Trong trường hợp không thể thực hiện xong vụ việc thì Trung tâm phải thỏa thuận với cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật về việc xử lý vụ việc đó.
4. Chi nhánh chấm dứt hoạt động trong những trường hợp sau đây:
b) Trung tâm tư vấn pháp luật mà Chi nhánh phụ thuộc chấm dứt hoạt động;
c) Bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động.
Trung tâm tư vấn pháp luật phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc chấm dứt hoạt động của Chi nhánh.
Điều 17. Thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh
1. Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động trong trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ điều kiện theo quy định tại
b) Có hành vi vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà tái phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng Giấy đăng ký hoạt động.
2. Sở Tư pháp, nơi cấp Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh thực hiện việc thu hồi Giấy đăng ký hoạt động.
NGƯỜI THỰC HIỆN TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Điều 18. Người thực hiện tư vấn pháp luật
Người thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm:
1. Tư vấn viên pháp luật;
2. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật;
3. Cộng tác viên tư vấn pháp luật.
Điều 19. Tư vấn viên pháp luật
1. Tư vấn viên pháp luật là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích;
b) Có Bằng cử nhân luật;
c) Có thời gian công tác pháp luật từ ba năm trở lên.
2. Tư vấn viên pháp luật được cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật. Tư vấn viên pháp luật được hoạt động trong phạm vi toàn quốc.
Công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân không được cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật.
Điều 20. Cấp, thu hồi Thẻ tư vấn viên pháp luật
1. Hồ sơ cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật gồm có:Sửa đổi, bổ sung
a) Giấy đề nghị cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật;
b) Bản sao Bằng cử nhân luật;
c) Sơ yếu lý lịch;
d) Giấy xác nhận về thời gian công tác pháp luật của người được đề nghị.
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp, nơi Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký hoạt động có trách nhiệm cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật cho người có đủ điều kiện; trong trường hợp từ chối, phải thông báo lý do bằng văn bản.
a) Không còn đủ tiêu chuẩn theo quy định tại
b) Được tuyển dụng làm công chức trong cơ quan hành chính nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân;
c) Có hành vi vi phạm thuộc trường hợp bị nghiêm cấm quy định tại
Sở Tư pháp, nơi có Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh mà người có Thẻ tư vấn viên pháp luật đang làm việc, thực hiện việc thu hồi Thẻ tư vấn viên pháp luật.
Điều 21. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc cho Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh
1. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc cho Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh theo hợp đồng lao động.
2. Luật sư làm việc cho Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh có quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng lao động ký kết giữa luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật về luật sư.
Điều 22. Cộng tác viên tư vấn pháp luật
1. Cộng tác viên tư vấn pháp luật phải có đủ điều kiện quy định tại
Cán bộ, công chức có thể làm cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh trong trường hợp việc làm cộng tác viên đó không trái với pháp luật về cán bộ, công chức.
2. Cộng tác viên tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật theo hợp đồng cộng tác viên được ký kết giữa Trung tâm tư vấn pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật.
Quyền, nghĩa vụ của cộng tác viên tư vấn pháp luật được quy định trong hợp đồng cộng tác viên.
3. Cộng tác viên tư vấn pháp luật chỉ được nhận vụ việc từ Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh.
Điều 23. Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện tư vấn pháp luật
1. Thực hiện tư vấn pháp luật trong phạm vi hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh nơi mình làm việc.
2. Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Được hưởng thù lao từ việc thực hiện tư vấn pháp luật.
4. Chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn do mình thực hiện.
5. Tuân thủ các quy định của tổ chức chủ quản, quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật về luật sư, trợ giúp pháp lý.
6. Bồi hoàn thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện tư vấn pháp luật.
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Điều 24. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong quản lý hoạt động tư vấn pháp luật
Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về tư vấn pháp luật; tổ chức tổng kết, trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện tư vấn pháp luật và thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác nhằm phát triển tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật quy định tại Nghị định này.
1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật theo thẩm quyền; thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật tại địa phương.
2. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý hoạt động tư vấn pháp luật, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh;
b) Cấp, thu hồi Thẻ tư vấn viên pháp luật;
c) Phối hợp với tổ chức chủ quản cùng cấp trong việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện tư vấn pháp luật;
d) Tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về các biện pháp hỗ trợ phát triển tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật tại địa phương;
Điều 26. Trách nhiệm của tổ chức chủ quản trong quản lý hoạt động tư vấn pháp luật
Tổ chức chủ quản có trách nhiệm quản lý về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh do mình thành lập theo quy định tại Nghị định này và Điều lệ của tổ chức mình.
1. Người thực hiện tư vấn pháp luật có hành vi vi phạm các quy định của Nghị định này thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh có hành vi vi phạm các quy định của Nghị định này thì bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Hình thức, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính về tư vấn pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.
Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật được cấp theo quy định của Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật tiếp tục có hiệu lực theo quy định của Nghị định này.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
Nơi nhận:
| TM. CHÍNH PHỦ |
Nghị định 77/2008/NĐ-CP về việc tư vấn pháp luật
- Số hiệu: 77/2008/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 16/07/2008
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 423 đến số 424
- Ngày hiệu lực: 11/08/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
