Nghị định 66-CP được ban hành năm 1995 bởi Chính phủ nhằm quy định chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Dự trữ quốc gia. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý và điều hành hệ thống dự trữ chiến lược của quốc gia trong giai đoạn mới.
Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến công tác dự trữ quốc gia trên phạm vi cả nước. Đối tượng áp dụng trực tiếp là Cục Dự trữ quốc gia, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được giao quản lý hàng dự trữ quốc gia, cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Vị trí và chức năng của Cục Dự trữ quốc gia
Theo quy định tại Nghị định, Cục Dự trữ quốc gia là cơ quan trực thuộc Chính phủ, thực hiện các chức năng chủ chốt sau:
- Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động dự trữ quốc gia trên phạm vi cả nước.
- Trực tiếp quản lý một số mặt hàng dự trữ quốc gia cụ thể theo sự phân công và giao nhiệm vụ của Chính phủ.
Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Cục Dự trữ quốc gia
Cục Dự trữ quốc gia được giao các nhiệm vụ và quyền hạn mang tính toàn diện để bảo đảm an ninh dự trữ quốc gia, bao gồm:
- Xây dựng và trình duyệt chính sách: Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và chế độ quản lý về dự trữ quốc gia. Sau khi được phê duyệt, Cục có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các nội dung này.
- Ban hành văn bản chuyên ngành: Ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm nội bộ về quy chế quản lý, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuật áp dụng trong lĩnh vực dự trữ quốc gia, đồng thời kiểm tra việc chấp hành các quy định này.
- Kế hoạch và phân bổ ngân sách: Tổng hợp nhu cầu vật tư, hàng hóa dự trữ quốc gia; chủ trì phối hợp với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và các Bộ liên quan để lập, cân đối và phân bổ nguồn tài chính dự trữ quốc gia trong kế hoạch Nhà nước hàng năm trình Chính phủ quyết định.
- Thanh tra, kiểm tra và giám sát: Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý hàng dự trữ quốc gia tại các cơ quan được Chính phủ phân công quản lý. Cục có quyền yêu cầu các cơ quan này báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình quản lý để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
- Nghiên cứu khoa học và công nghệ: Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ tiên tiến vào công tác bảo quản và quản lý hàng dự trữ; từng bước đầu tư, đổi mới và hiện đại hóa hệ thống kho tàng, trang thiết bị kỹ thuật bảo quản.
- Trực tiếp điều hành hàng dự trữ: Chỉ đạo thực hiện các nghiệp vụ mua, bán, bảo quản, xuất, nhập các mặt hàng dự trữ quốc gia được Chính phủ giao trực tiếp quản lý. Được phép trực tiếp xuất nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ dự trữ quốc gia theo quyết định cụ thể của Thủ tướng Chính phủ.
- Hợp tác quốc tế và đào tạo: Tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dự trữ quốc gia theo quy định; xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức trong toàn ngành.
- Quản lý nội bộ: Quản lý tổ chức bộ máy, các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc, biên chế, tài sản và tài chính của Cục theo đúng các quy định hiện hành của Chính phủ.
Cơ cấu tổ chức của Cục Dự trữ quốc gia
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục được thiết kế chặt chẽ nhằm đáp ứng cả yêu cầu quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp chuyên môn, bao gồm ba khối chính:
- Các tổ chức giúp Cục trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Ban Chính sách dự trữ quốc gia, Ban Kế hoạch, Ban Tài chính - Kế toán, Ban Kỹ thuật bảo quản, Ban Xây dựng cơ bản, Ban Tổ chức - Cán bộ, Thanh tra và Văn phòng.
- Các đơn vị trực thuộc theo vùng: Các Chi cục Quản lý hàng dự trữ quốc gia theo vùng lãnh thổ để trực tiếp quản lý hàng hóa tại các địa bàn trọng điểm.
- Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc: Trung tâm Khoa học, Công nghệ bảo quản và Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia có thẩm quyền quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức chi tiết của các đơn vị trực thuộc nêu trên.
Chế độ lãnh đạo và bổ nhiệm cán bộ
Cục Dự trữ quốc gia hoạt động theo chế độ thủ trưởng:
- Cục do Cục trưởng lãnh đạo và chịu trách nhiệm toàn bộ trước Chính phủ. Giúp việc cho Cục trưởng có các Phó Cục trưởng.
- Thủ tướng Chính phủ là người có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm Cục trưởng và các Phó Cục trưởng, dựa trên đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Nghị định 66-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Nghị định này bãi bỏ Quyết định số 236-TTg ngày 12/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ cùng tất cả các quy định trước đây trái với tinh thần của Nghị định này. Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các điều khoản của Nghị định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 66-CP | Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 1995 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 35/CP ngày 27/5/1995 của Chính phủ về đặt Cục Dự trữ quốc gia thuộc Chính phủ;
Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia và Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chế độ quản lý về dự trữ quốc gia và hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các vấn đề nói trên sau khi được phê duyệt.
2. Ban hành theo thẩm quyền các văn bản về quy chế quản lý, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật thuộc lĩnh vực dự trữ quốc gia và kiểm tra việc thực hiện các văn bản trên.
3. Tổng hợp nhu cầu vật tư hàng hoá dự trữ quốc gia và phối hợp với các cơ quan có liên quan (Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và các Bộ được Chính phủ giao quản lý hàng dự trữ quốc gia) để lập, cân đối và phân bổ nguồn tài chính dự trữ quốc gia trong kế hoạch Nhà nước hàng năm trình Chính phủ quyết định.
4. Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc quản lý hàng dự trữ quốc gia đối với các cơ quan được Chính phủ phân công quản lý. Được quyền yêu cầu các cơ quan quản lý hàng dự trữ quốc gia báo cáo theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình quản lý dự trữ quốc gia thuộc từng cơ quan quản lý để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
5. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến vào lĩnh vực bảo quản và quản lý dự trữ quốc gia; từng bước đổi mới và hiện đại hoá hệ thống kho tàng, trang thiết bị và công nghệ bảo quản hàng dự trữ quốc gia.
6. Chỉ đạo thực hiện việc mua, bán, bảo quản, xuất, nhập hàng dự trữ quốc gia được Chính phủ giao cho Cục trực tiếp quản lý. Được trực tiếp xuất nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ cho dự trữ quốc gia theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
7. Tổ chức hợp tác quốc tế về lĩnh vực dự trữ quốc gia theo quy định của Chính phủ.
8. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức ngành Dự trữ quốc gia.
9. Quản lý tổ chức bộ máy, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước, biên chế, tài sản, tài chính thuộc Cục theo quy định của Chính phủ.
Điều 3.- Cơ cấu tổ chức của Cục Dự trữ Quốc gia gồm có:
A. Các tổ chức giúp Cục trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước:
Ban Chính sách dự trữ quốc gia.
Ban Kế hoạch.
Ban Tài chính - Kế toán.
Ban Kỹ thuật bảo quản.
Ban Xây dựng cơ bản.
Bản Tổ chức - Cán bộ.
Thanh tra.
Văn phòng.
B. Các Chi cục Quản lý hàng dự trữ quốc gia theo vùng lãnh thổ.
C. Các tổ chức sự nghiệp:
Trung tâm Khoa học, Công nghệ bảo quản.
Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc nói trên.
Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2Nghị định 15-CP năm 1993 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ
- 3Nghị định 35/CP năm 1995 về việc đặt Cục Dự trữ Quốc gia trực thuộc Chính phủ
- 4Quyết định 517/QĐ-LĐTBXH năm 2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Việc làm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
Nghị định 66-CP năm 1995 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Dự trữ quốc gia
- Số hiệu: 66-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 18/10/1995
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 18/10/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
