Nghị định số 62-CP được ban hành bởi Hội đồng Chính phủ năm 1976 kèm theo Điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý, kiểm tra và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong nền kinh tế quốc dân thời kỳ đầu xây dựng đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Điều lệ này áp dụng đối với tất cả các ngành sản xuất, lưu thông và phân phối trong nền kinh tế quốc dân, ngoại trừ các công trình xây dựng cơ bản. Đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp bao gồm thủ trưởng các Bộ, Tổng cục, Chủ tịch Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các cơ quan quản lý sản xuất, kinh doanh và các đơn vị kinh tế cơ sở.
Trách nhiệm của các cấp quản lý và tính pháp lệnh của chỉ tiêu chất lượng
- Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị kinh tế cơ sở phải chịu trách nhiệm toàn diện về tình trạng chất lượng và công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong phạm vi phụ trách.
- Chất lượng sản phẩm và hàng hoá được xác định là một chỉ tiêu pháp lệnh trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các ngành, các cấp và đơn vị kinh tế cơ sở.
- Các đơn vị phải xây dựng, bảo vệ, xét duyệt và đánh giá việc thực hiện kế hoạch bảo đảm, nâng cao chất lượng theo đúng nguyên tắc quản lý kế hoạch của Nhà nước.
Nguyên tắc quản lý chất lượng và giá cả theo phẩm cấp
- Nhà nước thống nhất quản lý chất lượng đối với những sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân theo danh mục do Chính phủ ban hành trong từng thời kỳ kế hoạch.
- Giá cả hàng hóa phải được xác định dựa trên phẩm cấp chất lượng. Tất cả sản phẩm không đạt yêu cầu chất lượng, nếu được phép tiêu thụ, đều phải thực hiện hạ giá bán từ giá bán buôn xí nghiệp đến giá bán lẻ theo quy định của cơ quan vật giá có thẩm quyền.
- Chất lượng sản phẩm phải được ghi rõ trong hợp đồng kinh tế (bao gồm quy cách, phẩm cấp, chỉ tiêu chất lượng, bao bì, đóng gói, thời hạn bảo hành). Khi giao nhận, bên giao phải cung cấp đầy đủ tài liệu chứng nhận chất lượng và hướng dẫn sử dụng kèm theo.
- Sản phẩm xuất xưởng bắt buộc phải có nhãn hiệu, dấu hiệu hàng hoá và giấy chứng nhận chất lượng của phòng hoặc ban kiểm tra chất lượng của xí nghiệp sản xuất.
Quy trình, căn cứ và thủ tục kiểm tra chất lượng
- Tất cả nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, bán sản phẩm và sản phẩm sau khi gia công, chế biến xong tại xí nghiệp phải được kiểm tra, xác nhận đạt chất lượng trước khi chuyển công đoạn hoặc xuất xưởng.
- Căn cứ để kiểm tra chất lượng bao gồm: tiêu chuẩn kỹ thuật, bản vẽ thiết kế, mẫu đã kiểm định, quy phạm, quy trình công nghệ, điều kiện nghiệm thu, hợp đồng kinh tế và các chỉ tiêu kế hoạch chất lượng được duyệt.
- Công tác kiểm tra được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất. Khi kiểm tra, trưởng đoàn phải xuất trình giấy ủy nhiệm. Thủ trưởng cơ sở có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, mẫu sản phẩm, thiết bị kiểm tra và cử nhân sự hỗ trợ.
- Kết quả kiểm tra phải được lập thành biên bản có chữ ký của trưởng đoàn và thủ trưởng cơ sở. Trường hợp thủ trưởng cơ sở từ chối ký, biên bản vẫn có giá trị pháp lý và cơ sở có quyền khiếu nại lên cấp trên.
- Chi phí kiểm tra do cơ sở được kiểm tra chi trả. Trong trường hợp tranh chấp, bên yêu cầu giám định tạm ứng chi phí, sau đó Hội đồng trọng tài kinh tế sẽ quyết định bên chịu chi phí dựa trên kết quả xét xử.
Phân loại chất lượng và chứng nhận chất lượng Nhà nước
- Sản phẩm được đánh giá và sắp xếp theo ba mức chất lượng: Mức 1 (đạt và vượt chỉ tiêu, có trình độ kỹ thuật cao hoặc tương đương thế giới); Mức 2 (đạt tiêu chuẩn hiện hành, đáp ứng yêu cầu kinh tế quốc dân); Mức 3 (lỗi thời, cần cải tiến hoặc loại bỏ).
- Nhà nước cấp dấu và giấy chứng nhận chất lượng cho các sản phẩm đạt mức 1 và mức 2 có tính ổn định và hiệu quả kinh tế cao. Dấu chứng nhận chất lượng Nhà nước có giá trị pháp lý trên phạm vi cả nước.
- Việc đánh giá và cấp dấu chất lượng được thực hiện thông qua các Hội đồng đánh giá chất lượng Nhà nước do Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá tổ chức.
Hệ thống tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa
- Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá: Là cơ quan giúp Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước quản lý thống nhất công tác này trên toàn quốc. Cục có quyền theo dõi chất lượng, nghiên cứu ban hành thể lệ, kiểm tra sản phẩm do Nhà nước quản lý, làm trọng tài giám định cuối cùng, quyết định tạm ngừng xuất xưởng hoặc phân phối hàng hóa kém chất lượng, áp dụng các hình thức phạt tiền và ủy quyền kiểm tra cho các cơ quan khác.
- Tổ chức kiểm tra chất lượng địa phương: Thực hiện và đôn đốc các chế độ kiểm tra tại địa phương, đánh giá các sản phẩm không thuộc diện Nhà nước thống nhất quản lý, làm trọng tài giám định tranh chấp giữa các cơ sở thuộc địa phương, kiến nghị xử lý vi phạm và báo cáo lên Ủy ban hành chính địa phương cùng Cục Kiểm tra chất lượng.
- Phòng hoặc ban kiểm tra chất lượng tại xí nghiệp (KCS): Thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều lệ ban hành kèm theo Quyết định số 26-CP ngày 21-02-1974 của Hội đồng Chính phủ.
Chế độ khen thưởng, xử phạt và trách nhiệm pháp lý
- Đơn vị, cá nhân có thành tích bảo đảm và nâng cao chất lượng, giảm thiểu sản phẩm hỏng sẽ được khen thưởng vật chất và tinh thần. Ngược lại, nếu vi phạm quy định gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm vật chất.
- Thủ trưởng, cán bộ quản lý và cán bộ kiểm tra chất lượng có thể bị khiển trách, cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10 đồng đến 100 đồng đối với các hành vi: cho xuất xưởng hàng kém chất lượng, gian dối chất lượng để trục lợi, trốn tránh kiểm tra, hoặc cán bộ kiểm tra không thực hiện đúng chức trách, vi phạm chế độ bảo mật.
- Trường hợp vi phạm nghiêm trọng gây thiệt hại lớn cho Nhà nước và nhân dân sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
- Các cơ quan quản lý sản xuất, vật giá, tài chính, ngân hàng có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để áp dụng các biện pháp đòn bẩy kinh tế, thưởng phạt nghiêm minh về chất lượng.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 62-CP và Điều lệ kèm theo có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1976. Các quy định trước đây trong các văn bản khác trái với Điều lệ này đều bị bãi bỏ. Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước chủ trì phối hợp với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước và Bộ Lao động chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 62-CP | Hà Nội , ngày 12 tháng 04 năm 1976 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ vào Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ ngày 14-07-1960;
Căn cứ vào bản Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Chính phủ và bản Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ trong lĩnh vực quản lý kinh tế đa ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Chính phủ số 172-CP ngày 01-11-1973,
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 159-TTg ngày 07-07-1973 về công tác quản lý chất lượng sản phẩm và hàng hoá;
Theo đề nghị của ông Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1.- Nay ban hành kèm theo nghị định này bản Điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÓ THỦ TƯỚNG
Nguyễn Duy Trinh |
Điều 2.- Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
1. Bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với chất lượng sản phẩm và hàng hoá.
2. Đề cao trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, hàng hoá của các ngành, các cấp và đơn vị kinh tế cơ sở.
Điều 3.- Hệ thống tổ chức kiểm tra chất lượng gồm có:
1. Cục kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá trực thuộc Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước và các cơ sở trực thuộc Cục đặt ở một số vùng kinh tế quan trọng.
2. Các tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá địa phương (ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).
3. Các phòng hoặc ban kiểm tra chất lượng sản phẩm ở xí nghiệp công nghiệp quốc doanh.
Nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức kiểm tra chất lượng được quy định ở chương V của bản điều lệ này.
Ở mỗi Tổng công ty, liên hiệp xí nghiệp của ngành hoặc cơ quan quản lý sản xuất, kinh doanh của địa phương phải có cán bộ chuyên trách quản lý công tác kiểm tra chất lượng đối với các cơ sở thuộc quyền quản lý.
Các tổ chức kiểm nghiệm ở các ngành, ở các địa phương có nhiệm vụ kiểm nghiệm chất lượng phục vụ cho việc nghiên cứu phát triển và cải tiến mặt hàng; kiểm nghiệm chất lượng khi giao nhận hàng theo hợp đồng kinh tế trong phạm vi được phân công của ngành hoặc địa phương mình.
1. Thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá.
2. Xây dựng và ban hành các chế độ, thể lệ về kiểm tra chất lượng cho thích hợp với tình hình cụ thể của ngành, địa phương hoặc cơ sở mình. Các chế độ, thể lệ này không được trái với quy định của Nhà nước.
3. Tổ chức xây dựng và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch bảo đảm và nâng cao chất lượng.
4. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra của cơ quan kiểm tra chất lượng có thẩm quyền tiến hành tại cơ sở mình phụ trách.
CÁC QUY ĐỊNH NHẰM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG
Điều 6.- Chất lượng sản phẩm và hàng hoá là chỉ tiêu pháp lệnh trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
Trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các ngành, các cấp và đơn vị kinh tế cơ sở phải có kế hoạch bảo đảm và nâng cao chất lượng. Kế hoạch này được tổ chức xây dựng, bảo vệ, xét duyệt, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện theo đúng nguyên tắc và thủ tục đã quy định đối với kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
Điều 8.- Giá cả phải được định theo phẩm cấp.
Tất cả sản phẩm, hàng hoá không đạt yêu cầu chất lượng, nếu được phép tiêu thụ, đều phải hạ giá.
Mức chênh lệch giá theo phẩm cấp và mức hạ giá đối với sản phẩm, hàng hoá không đạt yêu cầu chất lượng do cơ quan vật giá có thẩm quyền quy định từ giá bán buôn xí nghiệp đến giá bán lẻ.
Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá phải kết hợp chặt chẽ với công tác kiểm tra việc chấp hành chế độ giá cả theo phẩm cấp của Nhà nước.
Khi giao hàng, bên giao phải cung cấp cho bên nhận đầy đủ các tài liệu chứng nhận chất lượng và khi cần thiết phải có các tài liệu thuyết mình về kết cấu, hướng dẫn lắp đặt, vận hành, sử dụng, bảo quản, sửa chữa và danh mục phụ tùng, dụng cụ kèm theo.
Hàng hoá trong lưu thông phân phối phải được kiểm tra chất lượng kết hợp với kiểm tra việc chấp hành chế độ giá cả theo phẩm cấp của Nhà nước.
1. Kiểm tra, đánh giá mức chất lượng sản phẩm đã đạt được để xét cấp chứng nhận chất lương của Nhà nước.
2. Kiểm tra, xác nhận mức thực hiện kế hoạch chất lượng đã được duyệt.
3. Kiểm tra, xem xét các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm ổn định và nâng cao chất lượng.
1. Báo cáo và cung cấp đầy đủ, chính xác các tài liệu về tình hình chất lượng theo yêu cầu của đoàn kiểm tra.
2. Cung cấp các tài liệu cần thiết làm căn cứ để kiểm tra như đã nêu ở điều 14.
3. Cung cấp mẫu sản phẩm, hàng hoá để kiểm tra.
4. Cung cấp thiết bị, dụng cụ kiểm tra và các phương tiện cần thiết khác có ở cơ sở. Cử cán bộ, công nhân giúp việc kiểm tra.
5. Tạo điều kiện thuận lợi để đoàn kiểm tra xem xét các điều kiện và biện pháp nhằm bảo đảm ổn định và nâng cao chất lượng ở những nơi cần thiết trong cơ sở mình.
Biên bản kiểm tra phải được lưu tại cơ quan trực tiếp chỉ đạo việc kiểm tra, tại cơ sở được kiểm tra, báo cáo lên cơ quan kiểm tra chất lượng cấp trên và gửi cho các cơ quan liên quan.
Điều 20.- Chi phí cho việc kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá do cơ sở được kiểm tra chịu.
Trong trường hợp có tranh chấp về chất lượng giữa các bên giao nhận thì chi phí giám định do bên yêu cầu giám định trả trước, sau đó, bên nào chịu chi phí này là do Hội đồng trọng tài kinh tế quyết định theo kết quả xét xử.
CHỨNG NHẬN CHẤT LƯỢNG CỦA NHÀ NƯỚC
1. Sản phẩm đạt và vượt những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đề ra trong tiêu chuẩn hoặc quy định hiện hành về chất lượng, với trình độ khoa học kỹ thuật cao hoặc tương đương với mức chất lượng trung bình tiền tiến của sản phẩm cùng loại trên thị trường thế giới.
2. Sản phẩm đạt được những chi tiêu kinh tế - kỹ thuật đề ra trong tiêu chuẩn hoặc quy định hiện hành về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế quốc dân và của nhân dân.
3. Sản phẩm, có những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đã lỗi thời cần được cải tiến hoặc loại khỏi sản xuất.
Những sảm phẩm đạt được mức chất lượng phù hợp với điểm 1 và 2 của điều 21 với điều kiện ổn định và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nền kinh tế quốc dân sẽ được cấp dấu chứng nhận chất lượng của Nhà nước.
Hình dáng và kích thước dấu chứng nhận chất lượng của Nhà nước do Nhà nước quy định.
Điều 23.- Dấu chứng nhận chất lượng của Nhà nước có giá trị pháp lý trong cả nước.
Xí nghiệp sản xuất sản phẩm mang dấu chứng nhận chất lượng của Nhà nước được khuyến khích về vật chất và tinh thần theo chế độ quy định.
NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG
Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Theo dõi tình hình chung về chất lượng sản phẩm và hàng hoá, nghiên cứu và đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành các chế độ, thể lệ làm cơ sở pháp lý cho công tác kiểm tra chất lượng. Tổ chức, hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện các quy định đó.
2. Chỉ đạo và hướng dẫn về tổ chức và nghiệp vụ cho các tổ chức kiểm tra chất lượng cấp dưới. Tổ chức việc nghiên cứu nghiệp vụ kiểm tra chất lượng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công nhân chuyên trách kiểm tra chất lượng.
3. Tổ chức việc kiểm tra, đánh giá chất lượng đối với sản phẩm do Nhà nước quản lý chất lượng nói ở điều 7, chương II, quyết định cấp dấy chứng nhận chất lượng của Nhà nước và xác nhận mức thực hiện kế hoạch chất lượng của xí nghiệp đối với những sản phẩm này. Tổ chức việc đánh giá chất lượng theo yêu cầu xét duyệt sản phẩm của Nhà nước.
4. Làm trọng tài giám định chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong trường hợp có tranh chấp về chất lượng. Kết quả giám định chất lượng sản phẩm, hàng hoá có giá trị quyết định cuối cùng về mặt pháp lý.
5. Cử cán bộ đến những nơi cần thiết, trong các cơ sở sản xuất và cơ sở lưu thông phân phối để kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá, xem xét các điều kiện và biện pháp để bảo đảm và nâng cao chất lượng.
6. Yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cơ quan có liên quan cung cấp mẫu sản phẩm, hàng hoá, phương tiện và các tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra.
7. Quyết định tạm ngừng xuất xưởng hoặc phân phối những sản phẩm, hàng hoá không đạt yêu cầu chất lượng theo quy định.
Áp dụng các hình thức phạt nói ở điều 30, chương VI của bản điều lệ này và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp ngoài quyền hạn của mình.
8. Thông báo cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cho cơ quan chủ quản của cơ sở đó và các cơ quan có liên quan biết tình hình vi phạm các quy định về chất lượng và kiến nghị biện pháp khắc phục.
9. Công nhận và ủy quyền kiểm tra Nhà nước về chất lượng cho các cơ quan, đơn vị thuộc các ngành, các địa phương.
10. Làm công tác tuyên truyền, thông tin, tư liệu về chất lượng và kiểm tra chất lượng.
11. Thu phí tổn kiểm tra theo thể lệ quy định.
1. Thực hiện và hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện các chế độ, thể lệ của Nhà nước về kiểm tra chất lượng trong địa phương. Nghiên cứu và đề nghị với Ủy ban hành chính địa phương ban hành các quy định nhằm cụ thể hoá các chế độ, thể lệ của Nhà nước về kiểm tra chất lượng cho phù hợp với đặc điềm và tình hình cụ thể của địa phương (các quy định này không được trái với quy định của Nhà nước).
2. Tổ chức việc kiểm tra, đánh giá chất lượng đối với các sản phẩm không thuộc diện Nhà nước thống nhất quản lý chất lượng nói ở điều 7, chương II, xác nhận việc thực hiện kế hoạch chất lượng của xí nghiệp đối với các sản phẩm này. Tổ chức việc đánh giá chất lượng theo yêu cần xét duyệt sản phẩm của địa phương.
3. Làm trọng tài giám định chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong trường hợp có tranh chấp về chất lượng giữa các cơ sở thuộc địa phương quản lý và trong phạm vi được phân cấp của Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá. Kết quả giám định chất lượng sản phẩm, hàng hoá có giá trị pháp lý.
4. Cử cán bộ đến những nơi cần thiết trong các cơ sở sản xuất và cơ sở lưu thông phân phối của địa phương để kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; xem xét các điều kiện và biện pháp để bảo đảm và nâng cao chất lượng.
5. Yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cơ quan có liên quan của địa phương cung cấp mẫu sản phẩm, hàng hoá, phương tiện và các tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra.
6. Kiến nghị Ủy ban hành chính địa phương và các cơ quan có thẩm quyền đình chỉ xuất xưởng hoặc phân phối những sản phẩm, hàng hoá không đạt yêu cầu chất lượng đã quy định và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về chất lượng.
7. Thông báo cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh của địa phương, cho cơ quan chủ quản của cơ sở đó và các cơ quan có liên quan biết tình hình vi phạm các quy định về chất lượng và kiến nghị biện pháp khắc phục.
8. Làm công tác tuyên truyền, thông tin về chất lượng và kiểm tra chất lượng ở địa phương.
9. Làm báo cáo về tình hình chất lượng sản phẩm, hàng hoá và hoạt động kiểm tra chất lượng lên Ủy ban hành chính địa phương và Cục kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá.
10. Thu phí tổn kiểm tra theo thể lệ quy định.
Chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất về chất lượng phải được thực hiện theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
1. Cho xuất xưởng hoặc phân phối trái phép những sản phẩm, hàng hoá không đạt yêu cầu chất lượng đã quy định.
2. Có hành động gian dối về chất lượng sản phẩm, hàng hoá để thu lợi trái phép.
3. Cố ý lẩn tránh việc thi hành chế độ kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá, gây khó khăn cho sự hoạt động của cơ quan kiểm tra chất lượng, vi phạm quy định ở điều 16, chương III.
4. Là cán bộ kiểm tra chất lượng mà không chấp hành đúng những chế độ, thể lệ về kiểm tra chất lượng, vi phạm quy định ở điều 18, chương III.
Điều 34.- Bãi bỏ những điều quy định trong các văn bản khác trái với điều lệ này.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÓ THỦ TƯỚNG
Nguyễn Duy Trinh |
- 1Nghị định 172-CP năm 1973 về Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Chính phủ và bản Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ trong lĩnh vực quản lý kinh tế do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
- 2Nghị quyết số 159-TTg về công tác quản lý chất lượng sản phẩm và hàng hóa trong thời gian tới do Thủ Tướng chính phủ ban hành
- 3Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ 1960
- 4Quyết định 1073-KHKT/QĐ năm 1986 về chứng nhận Nhà nước chất lượng sản phẩm do Chủ nhiệm Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 5Thông tư 341-KHKT/TT-1976 hướng dẫn thi hành Điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá do Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước ban hành
Nghị định 62-CP năm 1976 về Điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá do Hội Đồng Chính Phù ban hành
- Số hiệu: 62-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 12/04/1976
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Duy Trinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 7
- Ngày hiệu lực: 12/04/1976
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
