Nghị định 57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử do Chính phủ ban hành (ký bởi Thủ tướng Phan Văn Khải) quy định chi tiết về việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và các hoạt động có liên quan đến thương mại tại Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Nghị định xác định rõ giới hạn pháp lý và các chủ thể chịu sự điều chỉnh của văn bản:
- Phạm vi điều chỉnh: Áp dụng đối với việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và các hoạt động liên quan trên lãnh thổ Việt Nam. Đối với các hoạt động thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam, nghị định vẫn được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận lựa chọn áp dụng Luật Thương mại và Nghị định này. Tuy nhiên, các quy định tại đây không áp dụng đối với các loại chứng từ điện tử đặc thù như hối phiếu, lệnh phiếu, vận đơn, hóa đơn gửi hàng, phiếu xuất nhập kho hoặc bất kỳ chứng từ có thể chuyển nhượng nào cho phép người nắm giữ hoặc người thụ hưởng được quyền nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc được thanh toán một khoản tiền cụ thể.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với các thương nhân sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động liên quan; đồng thời áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân khác có sử dụng chứng từ điện tử trong các hoạt động liên quan đến thương mại.
Các khái niệm và thuật ngữ cốt lõi
Nghị định đưa ra định nghĩa pháp lý cho các thuật ngữ nền tảng trong giao dịch điện tử:
- Chứng từ: Là hợp đồng, đề nghị, thông báo, tuyên bố, hóa đơn hoặc tài liệu khác do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng.
- Chứng từ điện tử: Là chứng từ được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.
- Thông điệp dữ liệu: Là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận hoặc được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
- Người khởi tạo và Người nhận: Người khởi tạo là bên (hoặc người đại diện) tạo ra hoặc gửi đi chứng từ điện tử trước khi lưu trữ; người nhận là bên nhận chứng từ theo chủ ý của người khởi tạo. Cả hai khái niệm này đều loại trừ các bên hoạt động với tư cách là người trung gian.
- Hệ thống thông tin tự động: Là chương trình máy tính, phương tiện điện tử hoặc tự động được dùng để khởi đầu hành động hoặc phản hồi thông điệp dữ liệu mà không có sự can thiệp hay kiểm tra của con người tại mỗi thời điểm thực hiện.
- Địa điểm kinh doanh: Là cơ sở cố định để tiến hành hoạt động kinh doanh, không bao gồm cơ sở cung ứng tạm thời hàng hóa hay dịch vụ.
Quy định về địa điểm kinh doanh của các bên
Việc xác định địa điểm kinh doanh trong môi trường điện tử tuân theo các nguyên tắc:
- Là địa điểm do chính bên đó chỉ ra, trừ khi bên khác nêu rõ bên đó không có địa điểm kinh doanh tại đây.
- Trường hợp một bên có nhiều địa điểm kinh doanh nhưng không chỉ rõ địa điểm cụ thể, thì địa điểm kinh doanh được xác định là nơi có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng, xét trong mọi bối cảnh trước và tại thời điểm giao kết.
- Nếu cá nhân không có địa điểm kinh doanh thì nơi cư trú của cá nhân đó được coi là địa điểm kinh doanh.
- Một địa điểm không được coi là địa điểm kinh doanh nếu nơi đó chỉ đặt máy móc, thiết bị công nghệ của hệ thống thông tin hoặc chỉ là nơi các bên khác truy cập hệ thống thông tin đó. Đồng thời, địa danh gắn với tên miền hoặc địa chỉ email không nhất thiết liên quan tới địa điểm kinh doanh của bên đó.
Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước về thương mại điện tử
Công tác quản lý nhà nước được phân định rõ ràng về nội dung và thẩm quyền:
- Nội dung quản lý: Bao gồm việc ban hành, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, chính sách phát triển và các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử; ban hành các tiêu chuẩn chuyên ngành; tổ chức đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hỗ trợ ứng dụng; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm; và tổ chức, quản lý hợp tác quốc tế.
- Trách nhiệm quản lý: Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thương mại điện tử. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thương mại thực hiện quản lý trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Giá trị pháp lý của chứng từ điện tử và chữ ký điện tử
Nghị định thiết lập nền tảng pháp lý vững chắc cho các giao dịch điện tử:
- Giá trị pháp lý chung: Chứng từ không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì lý do tồn tại dưới dạng chứng từ điện tử.
- Giá trị pháp lý như văn bản: Chứng từ điện tử được thừa nhận có giá trị như văn bản nếu thông tin chứa trong đó có thể truy cập được để sử dụng khi cần thiết.
- Giá trị pháp lý như bản gốc: Được công nhận khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin kể từ khi được tạo ra ở dạng cuối cùng (thông tin còn đầy đủ, chưa bị thay đổi trừ những thay đổi hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị); và thông tin đó có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.
- Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử: Chứng từ điện tử được coi là có chữ ký của một bên nếu sử dụng một phương pháp đủ tin cậy để xác nhận được danh tính của bên ký và xác nhận sự chấp thuận của bên đó đối với nội dung chứng từ, phù hợp với mọi bối cảnh và thỏa thuận liên quan.
Thời điểm, địa điểm gửi và nhận chứng từ điện tử
Quy trình lưu chuyển chứng từ điện tử được định vị rõ ràng về thời gian và không gian:
- Thời điểm gửi: Là thời điểm chứng từ điện tử rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hoặc đại diện của họ. Trường hợp chứng từ không rời khỏi hệ thống thông tin này, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ.
- Thời điểm nhận: Là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử tại địa chỉ điện tử do họ chỉ ra. Nếu gửi tới địa chỉ điện tử khác của người nhận, thời điểm nhận là khi người nhận có thể truy cập được tại địa chỉ này và biết rõ chứng từ đã được gửi tới đó. Người nhận được coi là có thể truy cập khi chứng từ tới được địa chỉ điện tử của họ.
- Địa điểm gửi và nhận: Địa điểm kinh doanh của người khởi tạo được coi là địa điểm gửi; địa điểm kinh doanh của người nhận được coi là địa điểm nhận chứng từ điện tử.
Quy định về giao kết hợp đồng trong thương mại điện tử
Nghị định điều chỉnh các hành vi pháp lý phát sinh trong quá trình thiết lập hợp đồng điện tử:
- Thông báo đề nghị giao kết: Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng không gửi tới bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giao kết, trừ khi bên thông báo chỉ rõ trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được phản hồi chấp nhận.
- Sử dụng hệ thống thông tin tự động: Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa hệ thống thông tin tự động với cá nhân, hoặc giữa các hệ thống tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự can thiệp hay kiểm tra trực tiếp của con người.
- Cung cấp điều khoản hợp đồng: Khi một bên đưa ra đề nghị giao kết qua hệ thống thông tin, trong khoảng thời gian hợp lý, bên đưa ra đề nghị phải cung cấp cho bên được đề nghị các chứng từ điện tử hoặc chứng từ liên quan chứa nội dung hợp đồng, đảm bảo điều kiện lưu trữ và sử dụng được.
- Lỗi nhập thông tin: Trường hợp cá nhân mắc lỗi nhập liệu khi tương tác với hệ thống tự động không hỗ trợ sửa lỗi, cá nhân đó hoặc người đại diện có quyền rút bỏ phần chứng từ lỗi nếu thông báo ngay cho bên kia khi phát hiện lỗi và chưa sử dụng hoặc nhận bất kỳ lợi ích vật chất, giá trị nào từ hàng hóa, dịch vụ của bên kia.
Hành vi vi phạm và chế tài xử lý
Để đảm bảo tính nghiêm minh, nghị định quy định rõ các hành vi vi phạm và hình thức xử lý:
- Các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử: Ngăn cản, hạn chế tổ chức, cá nhân sử dụng chứng từ điện tử hoặc lựa chọn công nghệ, phương tiện điện tử; thay đổi, xóa, hủy, sao chép, tiết lộ, di chuyển trái phép, giả mạo, chiếm đoạt chứng từ điện tử; xâm phạm, phá hoại hệ thống thông tin dùng cho thương mại điện tử; khởi tạo, gửi, truyền, nhận, xử lý chứng từ điện tử nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật; và các hành vi vi phạm khác theo quy định.
- Biện pháp xử lý vi phạm: Thương nhân, tổ chức vi phạm tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt hành chính, đình chỉ hoạt động, và phải bồi thường nếu gây thiệt hại. Cá nhân vi phạm tùy theo mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, và phải bồi thường nếu gây thiệt hại.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Nghị định quy định cụ thể về mốc thời gian phát sinh hiệu lực và trách nhiệm triển khai:
- Hiệu lực thi hành: Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây về giao dịch điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động liên quan trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
- Hướng dẫn thi hành: Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ hướng dẫn chi tiết việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động liên quan. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 57/2006/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 2006 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại,
NGHỊ ĐỊNH:
Nghị định này áp dụng đối với việc:
1. Sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật Thương mại và Nghị định này.
3. Các quy định của Nghị định này không áp dụng đối với việc sử dụng chứng từ điện tử là hối phiếu, lệnh phiếu, vận đơn, hoá đơn gửi hàng, phiếu xuất nhập kho hay bất cứ chứng từ có thể chuyển nhượng nào cho phép bên nắm giữ chứng từ hoặc bên thụ hưởng được quyền nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc được trả một khoản tiền nào đó.
Nghị định này áp dụng đối với:
1. Thương nhân sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại.
2. Tổ chức, cá nhân khác sử đụng chứng từ điện tử trong hoạt động có liên quan đến thương mại.
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. "Chứng từ" là hợp đồng, đề nghị, thông báo, tuyên bố, hóa đơn hoặc tài liệu khác do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng.
2. “Chứng từ điện tử” là chứng từ ở dạng thông điệp dữ liệu.
3. "Thông điệp dữ liệu” là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận hoặc được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
4. "Người khởi tạo" là bên, hoặc người đại diện của bên đó, đã tạo ra hoặc gửi đi chứng từ điện tử trước khi lưu trữ nó. Người khởi tạo không bao gồm bên hoạt động với tư cách là người trung gian liên quan tới chứng từ điện tử.
5. "Người nhận" là bên nhận được chứng từ điện tử theo chủ ý của người khởi tạo. Người nhận không bao gồm bên hoạt động với tư cách là người trung gian liên quan tới chứng từ điện tử.
6. "Hệ thống thông tin" là hệ thống được tạo lập để gửi, nhận, lưu trữ, hiển thị hoặc thực hiện các xử lý khác đối với thông điệp dữ liệu.
7. "Hệ thống thông tin tự động" là chương trình máy tính, phương tiện điện tử hoặc tự động được sử dụng để khởi đầu một hành động hay phản hồi các thông điệp dữ liệu nhưng không có sự can thiệp hoặc kiểm tra của con người mỗi lần một hành động được khởi đầu hoặc một phản hồi được tạo ra bởi hệ thống.
8. “Địa điểm kinh doanh" là cơ sở cố định để tiến hành hoạt động kinh doanh, không bao gồm cơ sở cung ứng tạm thời hàng hóa hay dịch vụ.
Điều 4. Địa điểm kinh doanh của các bên
1. Địa điểm kinh doanh của mỗi bên là địa điểm do bên đó chỉ ra, trừ khi bên khác nêu rõ bên đó không có địa điểm kinh doanh tại địa điểm này.
2. Trong trường hợp một bên có nhiều địa điểm kinh doanh nhưng không chỉ ra địa điểm kinh doanh nào thì địa điểm kinh doanh là địa điểm có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng liên quan xét tới mọi bối cảnh trước và tại thời điểm giao kết hợp đồng.
3. Trong trường hợp cá nhân không có địa điểm kinh doanh thì địa điểm kinh doanh là nơi cư trú của cá nhân đó.
4. Một địa điểm không được coi là địa điểm kinh doanh nếu địa điểm đó chỉ là nơi đặt máy móc, thiết bị công nghệ của hệ thống thông tin do một bên sử dụng để giao kết hợp đồng, hoặc chỉ là nơi các bên khác có thể truy cập hệ thống thông tin đó.
5. Một địa danh gắn với tên miền hay địa chỉ thư điện tử của một bên không nhất thiết liên quan tới địa điểm kinh doanh của bên đó.
Điều 5. Nội dung quản lý nhà nước về thương mại diện tử
Nội dung quản lý nhà nước về thương mại điện tử bao gồm:
1. Ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và chính sách phát triển thương mại điện tử.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử.
3. Ban hành các tiêu chuẩn về thương mại điện tử.
4. Tổ chức đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về thương mại điện tử, thực hiện các hoạt động hỗ trợ ứng đụng thương mại điện tử.
5. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thương mại điện tử, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử.
6. Tổ chức, quản lý hợp tác quốc tế về thương mại điện tử.
Điều 6. Quản lý nhà nước về thương mại điện tử
1. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về thương mại điện tử.
2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thương mại thực hiện việc quản lý nhà nước về thương mại điện tử.
GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ
Chứng từ không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì chứng từ đó là chứng từ điện tử.
Điều 8. Giá trị pháp lý như văn bản
Chứng từ điện tử có giá trị pháp lý như văn bản nếu thông tin chứa trong chứng từ điện tử đó có thể truy cập được để sử dụng khi cần thiết.
Điều 9. Giá trị pháp lý như bản gốc
1. Chứng từ điện tử có giá trị pháp lý như bản gốc nếu thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện sau:
a) Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là chứng từ điện tử hay dạng khác.
b) Thông tin chứa trong chứng từ điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.
2. Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị chứng từ điện tử.
3. Tiêu chuẩn về sự tin cậy được xem xét phù hợp với mục đích thông tin được tạo ra và mọi bối cảnh liên quan.
Điều 10. Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử
Chứng từ điện tử được coi là có chữ ký của một bên nếu:
1. Đã sử dụng một phương pháp để xác nhận được bên ký chứng từ điện tử và xác nhận sự chấp thuận của bên đó đối với thông tin chứa trong chứng từ điện tử được ký.
2. Phương pháp nói trên đủ tin cậy cho mục đích tạo ra và trao đổi chứng từ điện tử xét tới mọi bối cảnh và thỏa thuận liên quan.
CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Điều 11. Thời điểm, địa điểm gửi và nhận chứng từ điện tử
1. Thời điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo. Trong trường hợp chứng từ điện tử không rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử.
2. Thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử đó tại một địa chỉ điện tử đo người nhận chỉ ra. Thời điểm nhận một chứng từ điện tử ở địa chỉ điện tử khác của người nhận là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử tại địa chỉ này và người nhận biết rõ chứng từ điện tử đã được gửi tới địa chỉ này.
Người nhận được coi là có thể truy cập được một chứng từ điện tử khi chứng từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử của người nhận.
3. Địa điểm kinh doanh của người khởi tạo được coi là địa điểm gửi chứng từ điện tử và địa điểm kinh doanh của người nhận được coi là địa điểm nhận chứng từ điện tử.
4. Khoản 2 Điều này áp dụng trong cả trường hợp khi địa điểm của hệ thống thông tin hỗ trợ địa chỉ điện tử có thể khác với địa điểm chứng từ điện tử được coi là nhận được theo khoản 3 Điều này.
Điều 12. Thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng
Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ trong thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận.
Điều 13. Sử dụng hệ thống thông tin tự động
Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động và một cá nhân, hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao kết.
Điều 14. Cung cấp các điều khoản của hợp đồng
Trong trường hợp thông qua các hệ thống thông tin, một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và bên được đề nghị có thể tiếp cận được đề nghị đó thì trong khoảng thời gian hợp lý bên đưa ra đề nghị phải cung cấp cho bên được đề nghị chứng tù điện tử hoặc các chứng từ liên quan khác chứa những nội dung của hợp đồng. Các chứng từ này phải thỏa mãn điêu kiện lưu trữ và sử dụng được.
Điều 15. Lỗi nhập thông tin trong chứng từ điện tử
1. Trường hợp một cá nhân mắc phải lỗi nhập thông tin trong một chứng từ điện tử được sử dụng để trao đổi với hệ thống thông tin tự động của bên khác nhưng hệ thống thông tin tự động này không hỗ trợ cho cá nhân đó sửa lại lỗi thì cá nhân đó hoặc người đại diện của mình có quyền rút bỏ phần chứng từ điện tử có lỗi nếu tuân thủ hai điều kiện sau:
a) Ngay khi biết có lỗi, cá nhân hoặc đại diện của cá nhân đó thông báo cho bên kia về lỗi và nêu rõ mình đã mắc phải lỗi trong chứng từ điện tử này.
b) Cá nhân hoặc đại diện của cá nhân đó vẫn chưa sử dụng hoặc có được bất kỳ lợi ích vật chất hay giá trị nào từ hàng hóa hay dịch vụ nhận được từ bên kia.
2. Quyền rút bỏ phần chứng từ điện tử có lỗi không ảnh hưởng tới việc áp dụng pháp luật quy định về hậu quả các lỗi phát sinh ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 16. Hành vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử
1. Ngăn cản, hạn chế khả năng của tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng chứng từ điện tủ.
2. Ngăn cản, hạn chế khả năng của tổ chúc, cá nhân trong việc lựa chọn công nghệ, phương tiện điện tử để tiến hành hoạt động thương mại.
3. Thay đổi, xóa, hủy, sao chép, tiết lộ, di chuyển trái phép, giả mạo, chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ chứng từ điện tử.
4. Xâm phạm, phá hoại hệ thống thông tin sử dụng cho hoạt động thương mại điện tử.
5. Khởi tạo, gửi, truyền, nhận, xử lý các chứng từ điện tử nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật.
6. Các hành vi vi phạm pháp luật khác liên quan tới sử dụng chứng từ điện tử theo quy định của pháp luật.
Điều 17. Xử lý vi phạm pháp luật về thương mại điện tử
1. Thương nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, đình chỉ hoạt động, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây về giao dịch điện tử trong hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
1. Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ hướng dẫn chi tiết việc sử dụng chứng từ điện tử trong các hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại theo quy định của Nghị định này và pháp luật hiện hành.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
| TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Quyết định 222/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2nghị định thư về hội nhập ngành thương mại điện tử ASEAN giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước ban hành
- 3Chỉ thị 14/2006/CT-BTM triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010 do Bộ trưởng Bộ Thương mại ban hành
- 4Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử
- 1Luật Thương mại 2005
- 2Quyết định 222/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Luật Giao dịch điện tử 2005
- 4nghị định thư về hội nhập ngành thương mại điện tử ASEAN giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước ban hành
- 5Chỉ thị 14/2006/CT-BTM triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010 do Bộ trưởng Bộ Thương mại ban hành
- 6Luật Tổ chức Chính phủ 2001
Nghị định 57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử
- Số hiệu: 57/2006/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 09/06/2006
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 24 đến số 25
- Ngày hiệu lực: 07/07/2006
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
