Nghị định 538-TTg được ban hành năm 1958 bởi Thủ tướng Chính phủ (do Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp ký thay) quy định về nhiệm vụ và tổ chức của lực lượng dân quân và tự vệ nhằm củng cố lực lượng quốc phòng địa phương, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Văn bản áp dụng đối với mọi công nhân Việt Nam trong độ tuổi quy định, các cơ quan, xí nghiệp, nông trường, trường học, cùng hệ thống chính quyền và cơ quan quân sự các cấp trên phạm vi cả nước.
Nhiệm vụ chiến lược của lực lượng dân quân và tự vệ
Theo quy định tại Nghị định, lực lượng dân quân và tự vệ có vai trò kép, vừa tích cực tham gia lao động sản xuất vừa thực hiện các nhiệm vụ quân sự quan trọng bao gồm:
- Sẵn sàng bổ sung lực lượng cho quân đội thường trực khi có yêu cầu.
- Bảo vệ an toàn sản xuất và giữ gìn trật tự trị an tại địa phương trong thời bình.
- Tiến hành chiến tranh du kích để bảo vệ địa bàn khi xảy ra chiến tranh.
Quy định về độ tuổi, phân loại và biên chế tổ chức
Nghị định đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể về độ tuổi tham gia, phân chia lực lượng và phương thức tổ chức biên chế như sau:
- Nghĩa vụ và độ tuổi tham gia: Mỗi công nhân Việt Nam từ 18 đến 45 tuổi đều có nghĩa vụ tham gia vào lực lượng dân quân, tự vệ. Đối với những người ngoài độ tuổi này, nếu tự nguyện tham gia thì vẫn được xem xét kết nạp vào lực lượng.
- Phân loại lực lượng: Để đảm bảo việc điều động thực hiện nhiệm vụ được hợp lý, lực lượng được chia thành hai nhóm chính:
- Dân quân và tự vệ 1: Là lực lượng vũ trang nòng cốt tại nông thôn và thành phố. Thành phần bao gồm quân nhân phục viên, dân quân du kích hoặc tự vệ cũ, và những thanh niên ưu tú hội đủ điều kiện về độ tuổi, sức khỏe cũng như phẩm chất chính trị.
- Dân quân và tự vệ 2: Là lực lượng vũ trang rộng rãi, bao gồm tất cả những người trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự, quân nhân phục viên, dân quân du kích, tự vệ cũ hoặc thanh niên không đủ điều kiện để tham gia vào nhóm dân quân tự vệ 1.
- Biên chế đơn vị: Dựa trên điều kiện địa bàn cư trú, chỗ ở gần nhau và sự thuận tiện trong sản xuất để sắp xếp lực lượng thành các tiểu đội, trung đội, đại đội riêng biệt cho từng nhóm (dân quân và tự vệ 1 riêng, dân quân và tự vệ 2 riêng). Tại những khu vực dân cư thưa thớt, số lượng người quá ít thì có thể linh hoạt ghép cả dân quân tự vệ 1 và 2 vào chung một tiểu đội hoặc trung đội.
- Kiện toàn bộ máy chỉ huy: Lựa chọn những người có đủ đức, tài, có tinh thần trách nhiệm và năng lực quản lý, huấn luyện từ hàng ngũ quân nhân phục viên, cán bộ dân quân tự vệ hiện có hoặc do chính quyền, đoàn thể địa phương cử ra để thành lập các ban chỉ huy vững mạnh.
- Xây dựng mô hình điểm: Mỗi huyện chọn một xã tiêu biểu gần huyện lỵ để trực tiếp chỉ đạo riêng việc xây dựng đội dân quân 1. Mô hình này nhằm rút kinh nghiệm lãnh đạo chung cho toàn huyện và sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ trị an tại khu vực huyện lỵ khi cần thiết.
Phân công trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện
Công tác tổ chức, củng cố và phát triển lực lượng dân quân tự vệ được phân cấp quản lý rõ ràng từ trung ương đến cơ sở:
- Cấp Trung ương: Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm phụ trách lãnh đạo toàn diện việc tổ chức, củng cố và phát triển dân quân tự vệ trên phạm vi toàn quốc.
- Cấp Quân khu: Bộ tư lệnh các quân khu chịu trách nhiệm phụ trách trong phạm vi địa bàn quản lý của mình.
- Cấp Tỉnh, Thành phố, Huyện, Châu (thuộc Khu tự trị): Ủy ban Hành chính các cấp chịu trách nhiệm lãnh đạo trực tiếp, các cơ quan quân sự địa phương cùng cấp chịu trách nhiệm triển khai thực hiện thực tế.
- Cấp Xã, Thị xã, Thị trấn, Khu phố: Ủy ban Hành chính cấp cơ sở chịu trách nhiệm lãnh đạo, cơ quan quân sự cấp tương đương trực tiếp thực hiện.
- Tại các cơ quan, xí nghiệp, nông trường, trường học: Thủ trưởng cơ quan và Ban Giám đốc các đơn vị này chịu trách nhiệm phụ trách tổ chức và hoạt động của lực lượng tự vệ tại đơn vị mình.
- Trách nhiệm thi hành: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Công an và Chủ tịch Ủy ban Hành chính các cấp có trách nhiệm thi hành nghiêm túc các điều khoản của Nghị định này.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 538-TTg có hiệu lực kể từ ngày ban hành năm 1958. Các quy định trong văn bản này đặt nền móng pháp lý quan trọng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng rộng khắp, kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 538-TTg | Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 1958 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ nghị quyết của Quốc hội ngày 22 tháng 01 năm 1957 về việc xây dựng quân đội củng cố quốc phòng;
Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng;
NGHỊ ĐỊNH:
Dân quân và tự vệ có nhiệm vụ tích cực tham gia sản xuất, đồng thời có những nhiệm vụ quân sự sau đây:
a) Sẵn sàng bổ sung cho quân đội.
b) Bảo vệ sản xuất, giữ gìn trị an ở địa phương trong thời bình.
c) Tiến hành chiến tranh du kích khi có chiến tranh.
Điều 2. – Nay quy định tổ chức dân quân và tự vệ như sau:
a) Mỗi công nhân Việt Nam từ 18 đến 45 tuổi đều có nghĩa vụ tham gia dân quân, tự vệ. Ngoài lứa tuổi, ai tình nguyện cũng được kết nạp.
b) Để việc điều động làm các nhiệm vụ được hợp lý sẽ biên chế thành dân quân và tự vệ 1 và dân quân và tự vệ 2.
Dân quân và tự vệ 1 là tổ chức vũ trang nòng cốt ở nông thôn và thành phố gồm những quân nhân phục viên, những dân quân du kích hay tự vệ cũ và những thanh niên có đủ điều kiện về tuổi, sức khỏe và phẩm chất chính tri.
Dân quân tự vệ 2 là tổ chức vũ trang rộng rãi gồm tất cả mọi người có nghĩa vụ quân sự và những quân nhân phục viên, dân quân du kích tự vệ củ, thanh niên, không đủ điều kiện làm dân quân tự vệ 1.
c) Căn cứ vào điều kiện địa cư, chổ ở gần nhau, tiện lợi cho việc sản xuất mà sắp xếp thành từng tiểu đội, trung đội, đại đội, dân quân và tự vệ 1 riêng, dân quân và tự vệ 2 riêng. Đặc biệt ở những nơi dân cư thưa, số lượng dân quân ở gần nhau qúa ít thì có thể sắp xếp cả dân quân tự vệ 1 và 2 vào chung một tiểu đội hoặc một trung đội.
d) Về chỉ huy cần phải kiện toàn bố trí cho vững mạnh. Chọn trong hàng ngũ cán bộ quân nhân phục viên,và cán bộ dân quân tự vệ sẵn có, hoặc do đoàn thể và chính quyền trong địa phương cử ra, những người đủ điều kiện về đức tài, tổ chức thành các ban chỉ huy có tinh thần trách nhiệm đầy đủ, có khả năng để chỉ huy, huấn luyện, lãnh đạo và quản lý lực lượng dân quân và tự vệ.
e) Mỗi huyện chọn một xã tương đối khá gần huyện lỵ trực tiếp chỉ đạo riêng xã đó xây dựng đội dân quân 1 để rút kinh nghiệm lãnh đạo cho việc tổ chức dân quân chung trong toàn huyện và để làm nhiệm vụ giữ gìn trị an khi cần thiết tại huyện lỵ.
Ở cấp khu do các Bộ tư lệnh quân khu phụ trách; ở các tỉnh, thành phố, các huyện, các châu thuộc Khu Tự trị do Ủy ban Hành chính các cấp đó phụ trách lãnh đạo và các cơ quan quân sự địa phương phụ trách thực hiện.
Ở các xã, thị xã, thị trấn, khu phố thì do Ủy ban Hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố phụ trách lãnh đạo và các cơ quan quân sự ở các cấp đó phụ trách thực hiện.
Ở các cơ quan, xí nghiệp, nông trường, trường học do các thủ trưởng cơ quan và ban Giám đốc xí nghiệp, nông trường, trường học phụ trách.
| K.T THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Nghị định 538-TTg năm 1958 quy định nhiệm vụ và tổ chức của dân quân và tự vệ do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.
- Số hiệu: 538-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 12/12/1958
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Võ Nguyên Giáp
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 44
- Ngày hiệu lực: 27/12/1958
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
