Nghị định 50-CP được ban hành năm 1997 bởi Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế thành lập và hoạt động của Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương nhằm thiết lập cơ chế huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính phục vụ công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai tại các cấp địa phương.
Quy chế này áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động và các tổ chức kinh tế trong nước, nước ngoài hoạt động trên địa bàn địa phương, đồng thời quy định chi tiết về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến cơ sở trong việc điều hành quỹ.
Đối tượng và mức đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão hàng năm
- Đối với công dân: Công dân Việt Nam nam từ đủ 18 tuổi đến hết 60 tuổi và nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 55 tuổi có nghĩa vụ đóng góp hàng năm. Mức đóng góp được tính bằng tiền theo giá thóc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp tại thời điểm thu: 01 kg thóc/năm đối với thành viên hộ nông nghiệp và 02 kg thóc/năm đối với các đối tượng khác.
- Đối với các tổ chức kinh tế: Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đóng tại địa phương phải nộp hàng năm với mức hai phần vạn (0,02%) trên tổng số vốn sản xuất kinh doanh, nhưng khống chế mức tối đa không quá năm triệu đồng. Khoản đóng góp này được hạch toán trực tiếp vào giá thành sản phẩm hoặc phí lưu thông của doanh nghiệp.
Quy định về miễn, tạm hoãn đóng góp và thẩm quyền quyết định
- Các trường hợp được miễn đóng góp: Thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh; cha, mẹ, vợ hoặc chồng của liệt sỹ; quân nhân làm nghĩa vụ quân sự đang hưởng phụ cấp sinh hoạt phí; học sinh, sinh viên học tập trung dài hạn tại các trường đại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề; người bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; thành viên hộ nghèo hưởng trợ cấp xóa đói giảm nghèo; hộ gia đình ở vùng cao, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp; các doanh nghiệp công ích và hợp tác xã nông nghiệp.
- Các trường hợp được tạm hoãn đóng góp: Thành viên hộ gia đình nông thôn ở vùng bị thiên tai, mất mùa được miễn nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp; các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế được miễn, giảm thuế doanh thu.
- Thẩm quyền quyết định và thời hạn: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định miễn, tạm hoãn cho các cá nhân và hộ gia đình nông thôn bị thiên tai. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định miễn, tạm hoãn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Việc xét miễn, hoãn được thực hiện mỗi năm một lần tại thời điểm giao chỉ tiêu thu quỹ. Trường hợp đã nộp tiền nhưng sau đó được xét tạm hoãn thì số tiền đã nộp được trừ vào nghĩa vụ đóng góp của năm sau.
Công tác thu nộp, phân bổ và quản lý Quỹ
- Thời hạn giao chỉ tiêu và thu nộp: Trước ngày 15 tháng 01 hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao chỉ tiêu thu quỹ cho cấp huyện. Cấp huyện tổ chức thu từ doanh nghiệp và phân bổ chỉ tiêu cho cấp xã thực hiện thu từ công dân. Toàn bộ số tiền thu được và các khoản đóng góp tự nguyện phải được nộp vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước địa phương. Việc thu tiền bắt buộc phải sử dụng phiếu thu theo mẫu thống nhất của Bộ Tài chính.
- Tỷ lệ phân bổ nguồn thu: Quỹ thu được phân chia theo tỷ lệ: 60% nộp vào Quỹ cấp tỉnh; 40% giữ lại Quỹ cấp huyện. Trích từ 3% đến 5% trên tổng số thu để chi trả thù lao cho những người trực tiếp thực hiện công tác thu quỹ tại cấp xã.
- Quản lý và điều phối: Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp quản lý và sử dụng phần quỹ được phân bổ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định mức hỗ trợ khắc phục hậu quả, điều động quỹ giữa các huyện hoặc trích quỹ hỗ trợ địa phương khác.
Mục đích sử dụng Quỹ phòng, chống lụt, bão
Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương được sử dụng nghiêm ngặt cho các hoạt động phòng chống thiên tai theo quy định pháp luật, bao gồm:
- Tổ chức tập huấn cho các lực lượng tham gia hộ đê và diễn tập các phương án phòng, chống lụt, bão tại địa phương.
- Hỗ trợ xử lý khẩn cấp các sự cố đê điều đối với tất cả các cấp đê hiện có trên địa bàn.
- Chi phí cho công tác tuần tra, canh gác đê trong suốt mùa mưa bão.
- Hỗ trợ tu sửa các công trình công cộng thiết yếu bị hư hại do thiên tai như trường học, bệnh viện, trạm xá.
- Mua sắm các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cần thiết phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn và cứu trợ khẩn cấp cho người dân bị ảnh hưởng bởi bão, lụt.
Chế độ báo cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm
- Chế độ báo cáo tài chính: Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp lập dự toán chi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp duyệt vào cuối quý I hàng năm. Ủy ban nhân dân các cấp báo cáo quyết toán thu, chi trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên. Cuối năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo quyết toán lên Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính.
- Khen thưởng và xử lý vi phạm đối với người nộp: Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc sẽ được khen thưởng. Cá nhân không chấp hành nghĩa vụ đóng góp sẽ bị truy nộp theo quy định. Đối với tổ chức không nộp đủ, cơ quan quản lý quỹ có quyền đề nghị ngân hàng trích chuyển kinh phí trực tiếp từ tài khoản của tổ chức đó vào tài khoản quỹ.
- Xử lý vi phạm đối với người quản lý: Người được giao nhiệm vụ thu, quản lý và sử dụng quỹ nếu vi phạm quy định sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm; nếu gây thiệt hại về vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Nghị định 50-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Mọi quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính và Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương chịu trách nhiệm phối hợp hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy chế này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 50-CP | Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1997 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão ngày20 tháng 3 năm 1993;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
NGHỊ ĐỊNH:
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Quy chế ban hành kèm theo Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
QUY CHẾ
THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO CỦA ĐỊA PHƯƠNG
(Ban hành kèm theo Nghị định số 50/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ)
Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương tiếp nhận mọi khoản tự nguyện ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương không bao gồm Quỹ ngày công lao động công ích.
Việc sử dụng Quỹ phải đảm bảo đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm việc sử dụng Quỹ sai mục đích dưới bất kỳ hình thức nào.
Tồn Quỹ cuối năm được luân chuyển sang năm sau.
ĐỐI TƯỢNG VÀ MỨC ĐÓNG GÓP QUỸ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO
Điều 6.- Các đối tượng sau đây có trách nhiệm đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão:
1. Công dân Việt Nam: Nam từ đủ 18 tuổi đến hết 60 tuổi; Nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 55 tuổi.
2. Mọi tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài đóng tại địa phương.
Điều 7.- Các đối tượng sau đây được miễn, tạm hoãn đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão.
1. Được miễn đóng góp:
a. Thương binh, bệnh binh và những người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh.
b. Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của liệt sỹ.
c. Quân nhân làm nghĩa vụ trong lực lượng vũ trang đang hưởng phụ cấp sinh hoạt phí.
d. Sinh viên, học sinh đang theo học tập trung dài hạn trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học và Dạy nghề.
đ. Người bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên.
e. Các thành viên hộ gia đình nghèo đang hưởng trợ cấp của Quỹ xoá đói giảm nghèo; hộ gia đình ở vùng cao, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới thuộc diện miễn nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
g. Các doanh nghiệp công ích và các hợp tác xã nông nghiệp.
2. Được tạm hoãn đóng góp:
a. Các thành viên hộ gia đình nông thôn ở vùng bị thiên tai, mất mùa nếu được miễn nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
b. Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế được miễn, giảm thuế doanh thu.
Điều 8.- Thẩm quyền quyết định miễn, tạm hoãn và thời hạn được miễn, tạm hoãn.
1. Thẩm quyền quyết định miễn, tạm hoãn:
a. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền quyết định miễn, tạm hoãn đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 7 của Quy chế này.
b. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền quyết định miễn, tạm hoãn đối với các đối tượng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 của Quy chế này.
2. Thời hạn được miễn, tạm hoãn:
Việc xét miễn, tạm hoãn đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương được tiến hành mỗi năm một lần vào thời điểm giao chỉ tiêu kế hoạch thu Quỹ. Trường hợp đối tượng đã đóng góp tiền nộp vào Quỹ, nay được xét tạm hoãn thì số tiền đã nộp được trừ vào số tiền đóng góp của năm sau.
Điều 9.- Mức tiền đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương hàng năm được quy định như sau:
1. Công dân trong độ tuổi quy định tại khoản 1 Điều 6 của Quy chế này mỗi năm nộp số tiền tính theo giá thóc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp tại thời điểm thu: 01 kg thóc (một kilôgam thóc) đối với thành viên hộ nông nghiệp; 02 kg thóc (hai kilôgam thóc) đối với các đối tượng khác.
2. Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đóng tại địa phương mỗi năm nộp hai phần vạn trên tổng số vốn sản xuất kinh doanh nhưng không quá năm triệu đồng và được hạch toán vào giá thành sản phẩm hoặc phí lưu thông.
THU NỘP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG QUỸ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO
Uỷ ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thu Quỹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Quy chế này và phân bổ chỉ tiêu thu cho các tổ chức ở xã, phường, thị trấn.
Tiền Quỹ thu được và mọi khoản tự nguyện ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nộp vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước ở địa phương.
Điều 11.- Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương được phân bổ như sau:
1. 60% nộp vào Quỹ phòng, chống lụt, bão tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. 40% nộp vào Quỹ phòng, chống lụt, bão quận, huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh;
3. Trích từ 3% đến 5% trên tổng số thu trả thù lao cho những người trực tiếp đi thu ở xã, phường, thị trấn.
Tập huấn cho các đối tượng tham gia hộ đê.
Diễn tập các phương án phòng, chống lụt, bão.
Hỗ trợ xử lý sự cố đê điều (cho tất cả các cấp đê hiện có).
Tuần tra, canh gác đê trong mùa mưa bão.
Hỗ trợ tu sửa trường học, bệnh viện, trạm xá và các công trình công cộng khác ở địa phương để khắc phục hậu quả do bão, lụt gây ra.
Mua sắm trang thiết bị cần thiết cho việc cứu hộ, cứu trợ người bị nạn do lụt, bão gây ra.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm báo cáo quyết toán thu chi Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương mình với Hội đồng nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp trên theo quy định của pháp luật hiện hành.
Vào cuối năm, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo quyết toán thu, chi Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương với Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính.
Cá nhân không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương thì phải truy nộp theo quy định của pháp luật.
Tổ chức không nộp đủ nghĩa vụ đóng góp quỹ theo quy định thì cơ quan thu quỹ đề nghị với cơ quan Ngân hàng cắt chuyển kinh phí từ tài khoản của Tổ chức đó vào tài khoản Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương.
Nghị định 50-CP năm 1997 về Quy chế thành lập và hoạt động của quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương
- Số hiệu: 50-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 10/05/1997
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 12
- Ngày hiệu lực: 25/05/1997
- Ngày hết hiệu lực: 08/12/2014
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
