Nghị định số 38-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1991 nhằm hướng dẫn thi hành chi tiết Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc giải quyết các tranh chấp hành chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước các quyết định hành chính hoặc hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức khi thi hành công vụ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với mọi công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; các cơ quan, tổ chức, cán bộ, nhân viên Nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận, thụ lý và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Văn bản cũng điều chỉnh các khiếu nại liên quan đến tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, an ninh.
Quy định chi tiết về quyền khiếu nại và thủ tục tiếp nhận đơn
- Quyền khiếu nại và người đại diện: Công dân thực hiện quyền khiếu nại đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của mình. Đối với người ốm đau, già yếu, khuyết tật hoặc chưa thành niên, người mắc bệnh tâm thần, việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp (cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột đã thành niên, người đỡ đầu hoặc người giám hộ) và phải được Ủy ban nhân dân cấp cơ sở xác nhận.
- Yêu cầu đối với đơn khiếu nại: Đơn phải ghi rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người khiếu nại; thông tin người bị khiếu nại; nội dung sự việc, chứng cứ và yêu cầu giải quyết. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một sự việc thì từng người phải ký tên vào đơn hoặc cử đại diện trình bày trực tiếp.
- Xử lý đơn chưa rõ ràng và địa điểm tiếp nhận: Nếu nội dung đơn chưa rõ ràng, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu bổ sung hoặc lập biên bản ghi nhận lời trình bày có chữ ký xác nhận của hai bên. Việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại bắt buộc phải thực hiện tại trụ sở cơ quan Nhà nước.
- Thời hiệu khiếu nại: Thực hiện theo quy định của Pháp lệnh. Trường hợp gặp trở ngại khách quan (thiên tai, địch họa, đi công tác xa, học tập ở nước ngoài), thời gian trở ngại không tính vào thời hiệu và phải được cơ quan quản lý hoặc UBND cấp cơ sở xác nhận.
- Xử lý đơn không thuộc thẩm quyền: Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận đơn, nếu không thuộc thẩm quyền, cơ quan nhận đơn phải thông báo cho đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân (nếu họ chuyển đơn đến) và hướng dẫn người khiếu nại gửi đúng nơi quy định.
Phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại các cấp
- Cấp cơ sở và cấp huyện: Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn và thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của mình hoặc cán bộ thuộc quyền quản lý. Chánh thanh tra huyện giải quyết theo thẩm quyền thanh tra. Chủ tịch UBND huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định của mình và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các vụ việc Chánh thanh tra huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại hoặc có kháng nghị.
- Cấp sở và cấp tỉnh: Chánh thanh tra sở và Giám đốc sở giải quyết khiếu nại trong phạm vi quản lý. Giám đốc sở ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các vụ việc do Chánh thanh tra sở đã giải quyết. Ở cấp tỉnh, Chánh thanh tra tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện thẩm quyền tương tự, trong đó Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các vụ việc Chánh thanh tra tỉnh đã giải quyết.
- Cấp Bộ và Trung ương: Chánh thanh tra Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng giải quyết khiếu nại thuộc phạm vi quản lý. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các quyết định của Chánh thanh tra Bộ hoặc khi có kháng nghị của Tổng thanh tra Nhà nước. Tổng thanh tra Nhà nước giải quyết khiếu nại đối với quyết định của chính mình và quyết định này là quyết định cuối cùng.
Thủ tục giải quyết khiếu nại và chế định kháng nghị
- Quy trình thụ lý và ban hành quyết định: Cơ quan có thẩm quyền phải thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ lập hồ sơ vụ việc. Quyết định giải quyết phải nêu rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có) và phải được gửi cho các bên liên quan trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký.
- Thời hạn và căn cứ kháng nghị: Thời hạn kháng nghị quyết định giải quyết khiếu nại tối đa là 01 năm kể từ ngày ký quyết định. Căn cứ kháng nghị bao gồm việc phát hiện tình tiết mới (chứng cứ đã có nhưng chưa được phát hiện khi giải quyết) hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật (áp dụng sai luật, vi phạm thủ tục gây thiệt hại).
- Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại: Quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh. Cá nhân không thi hành sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Người lợi dụng quyền khiếu nại để gây rối trật tự công cộng sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo
- Hình thức và nội dung tố cáo: Công dân có thể tố cáo bằng đơn hoặc trực tiếp trình bày. Đơn tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, người bị tố cáo và hành vi vi phạm. Đối với tố cáo nặc danh (không rõ họ tên, địa chỉ) nhưng có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể thì thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định việc xem xét, xác minh.
- Thời hạn chuyển đơn và thụ lý tố cáo: Nếu không thuộc thẩm quyền, cơ quan nhận đơn phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền trong vòng 10 ngày. Trường hợp khẩn cấp đe dọa tính mạng, tài sản thì phải báo ngay cho cơ quan công an hoặc UBND nơi gần nhất để ngăn chặn. Nếu thuộc thẩm quyền, cơ quan phải ra quyết định thụ lý trong vòng 10 ngày và thông báo cho người tố cáo.
- Xác minh và thông báo kết quả: Cơ quan giải quyết phải thu thập chứng cứ, lập hồ sơ, ban hành kết luận hoặc quyết định xử lý. Trong vòng 10 ngày kể từ ngày có kết luận, phải thông báo kết quả cho người tố cáo. Nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Trách nhiệm của Tổng thanh tra Nhà nước: Giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quản lý thống nhất công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên phạm vi cả nước; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra các ngành, các cấp và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ lên Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng.
- Trách nhiệm của Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh: Tổ chức tốt công tác tiếp dân, bố trí cán bộ đủ năng lực, phẩm chất; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 3 tháng một lần về tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo gửi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Tổng thanh tra Nhà nước.
- Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc: Thủ trưởng các cấp, các ngành có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và Thanh tra nhân dân giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo; có quyền kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và điều khoản thi hành
- Khen thưởng và kỷ luật: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích hoặc người tố cáo có công ngăn ngừa thiệt hại được khen thưởng. Người vi phạm quyền khiếu nại, tố cáo hoặc thiếu trách nhiệm trong giải quyết sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời phải bồi thường thiệt hại nếu có.
- Hướng dẫn đặc thù: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau khi thống nhất với Tổng thanh tra Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lực lượng quân đội và công an.
- Quy định chuyển tiếp: Các khiếu nại, tố cáo phát sinh trước ngày 01 tháng 8 năm 1991 đang trong quá trình giải quyết thì tiếp tục áp dụng các quy định của Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 5 năm 1991 để giải quyết.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 38-HĐBT năm 1991 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và thay thế hoàn toàn Nghị định số 58-HĐBT ngày 29 tháng 3 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 38-HĐBT | Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 1991 |
HỘIĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 2 tháng 5 năm 1991;
Theo đề nghị của Tổng Thanh tra Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH:
2. Công dân khiếu nại trước tiên với cơ quan Nhà nước đã ra quyết định hành chính nói trên hoặc cơ quan Nhà nước có nhân viên làm trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý hành chính.
2. Các khiếu nại mà thẩm quyền, thủ tục giải quyết đã được các Luật hoặc Pháp luật khác quy định thì giải quyết theo các văn bản Pháp luật đó.
2. Cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột đã thành niên, người đỡ đầu hoặc người giám hộ có thể khiếu nại trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mắc bệnh tâm thần đã bị xâm phạm.
3. Việc đại diện khiếu nại phải được Uỷ ban Nhân dân cấp cơ sở xác nhận.
4. Người đại diện có nghĩa vụ trình bày đầy đủ, trung thực nội dung sự việc khiếu nại.
Trường hợp nhiều người khiếu nại trong cùng một đơn về một sự việc thì từng người phải ghi rõ họ tên, địa chỉ và ký tên vào đơn; nếu trực tiếp trình bày thì cử đại diện đến trình bày với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại chỉ được tiến hành tại Trụ sở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Nếu người khiếu nại vì những trở ngại như thiên tai, địch hoạ, đi công tác đột xuất ở nơi xa, đi công tác hoặc học tập ở nước ngoài không thể thực hiện quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời hiệu khiếu nại được tính từ ngày những trở ngại không còn nữa. Những trở ngại nói trên phải được thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp hoặc Uỷ ban Nhân dân cấp cơ sở xác nhận.
2. Cơ quan Nhà nước nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan, thì thụ lý phần thuộc thẩm quyền của mình đồng thời hướng dẫn người khiếu nại với các cơ quan khác có thẩm quyền giải quyết những nội dung còn lại.
1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến trách nhiệm quản lý của mình;
2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã giải quyết, khi:
a) Đương sự còn khiếu nại;
b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc phát hiện việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Có kháng nghị của Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Điều 12. - Giám đốc Sở có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết:
1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình;
2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra Sở đã giải quyết, khi:
a) Đương sự còn khiếu nại;
b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Có kháng nghị của Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình.
2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã giải quyết, khi:
a) Đương sự còn khiếu nại;
b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc phát hiện việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm Pháp luật;
c) Có kháng nghị của Tổng thanh tra Nhà nước.
1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình;
2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng đã giải quyết khi:
a) Đương sự còn khiếu nại;
b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm Pháp luật;
c) Có kháng nghị của Tổng thanh tra Nhà nước.
Trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ đã thu thập được, căn cứ vào các quy định của Pháp luật, Thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định giải quyết. Trường hợp người bị thiệt hại được bồi thường thì quyết định phải ghi rõ tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bồi thường.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký, quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho những người nói tại Điều 25 của Pháp lệnh.
Cơ quan Nhà nước đã ra quyết định giải quyết khiếu nại có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền để quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời.
Kháng nghị được gửi cho thủ trưởng cùng cấp của tổ chức thanh tra đã ra quyết định giải quyết và tổ chức thanh tra đó, đồng thời thông báo cho người khiếu nại, người bị khiếu nại biết.
1. Tình tiết mới là những chứng cứ đã có từ trước mà trong quá trình giải quyết, cơ quan có thẩm quyền chưa phát hiện được và với chứng cứ đó thì việc khiếu nại phải được giải quyết lại mới bảo đảm tính đúng đắn.
2. Dấu hiệu vi phạm Pháp luật là những dấu hiệu chứng tỏ khi quyết định giải quyết đã áp dụng không đúng các quy luật của Pháp luật, hoặc cơ quan có thẩm quyền đã vi phạm thủ tục giải quyết, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1. Cá nhân có trách nhiệm mà không thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thì tuỳ theo mức độ vi phạm nặng hoặc nhẹ, thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp cá nhân đó có thể áp dụng biện pháp xử lý kỷ luật hành chính, trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng đề nghị cơ quan Pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 127 Bộ luật Hình sự.
2. Nếu người khiếu nại, người bị khiếu nại hoặc những người liên quan không chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thì Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thích hợp theo quy định của Pháp luật buộc họ phải thực hiện.
Người nào lợi dụng quyền khiếu nại để gây rối trật tự công cộng thì tuỳ theo mức độ vi phạm nặng hoặc nhẹ có thể xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 198 Bộ luật Hình sự.
3. Nếu Thủ trưởng có trách nhiệm mà không áp dụng biện pháp cần thiết nói tại khoản 1 và 2 Điều này để thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thì tuỳ theo mức độ vi phạm nặng hoặc nhẹ có thể bị xử lý kỷ luật hành chính, nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 220 của Bộ luật Hình sự.
Đơn tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo; nêu rõ sự việc, các bằng chứng mà mình đưa ra; họ tên, địa chỉ, chức vụ người bị tố cáo.
Các tố cáo về hành vi phạm tội thì giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Công dân thực hiện quyền tố cáo trước tiên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 29 Pháp lệnh.
Nếu người tố cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo thì cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phải biên nhận và bảo quản chu đáo. Bản ghi nội dung tố cáo, băng ghi lời tố cáo phải cho đương sự đọc lại, nghe lại, yêu cầu họ cùng cán bộ tiếp nhận ký tên xác nhận.
2. Những đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra xác minh, thì tuỳ tính chất, sự việc mà thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định xem xét hoặc không xem xét.
2. Tố cáo thuộc thẩm quyền cấp dưới giải quyết, quá thời hạn mà không được thụ lý thì cơ quan cấp trên trực tiếp ra quyết định buộc cấp dưới giải quyết. Những tố cáo mà cấp dưới đã giải quyết dùng Pháp luật thì thông báo cho người tố cáo biết.
3. Những tố cáo đã được giải quyết nhưng phát hiện có tình tiết mới hoặc việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm Pháp luật như quy định tại
III. QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CAÓ CUẢ CÔNG DÂN
Các tổ chức Thanh tra Nhà nước thực hiện quyền thanh tra Nhà nước trong việc thực hiện Pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quản lý công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.
Người nào vi phạm quyền khiếu nại, tố cáo, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân quy định tại Điều 44 Pháp lệnh thì tuỳ theo mức độ và tính chất vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1Chỉ thị 979/1997/CT-TTg về tổng kết thực hiện Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
- 2Công văn hướng dẫn một số việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
- 3Nghị định 58-HĐBT năm 1982 thi hành Pháp lệnh xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Nghị định 67/1999/NĐ-CP hướng dẫn Luật Khiếu nại, tố cáo
Nghị định 38-HĐBT năm 1991 thi hành Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 38-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 28/01/1991
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 28/01/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
