Nghị định số 359-NV/NĐ được ban hành năm 1946 bởi Bộ trưởng Bộ Nội vụ, quy định chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Nha Dân tộc thiểu số. Đây là một trong những văn bản pháp lý đặt nền móng đầu tiên cho chính sách dân tộc của chính quyền cách mạng Việt Nam non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm toàn bộ các hoạt động quản lý nhà nước, nghiên cứu và thực thi chính sách liên quan đến các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng áp dụng trực tiếp là Nha Dân tộc thiểu số thuộc Bộ Nội vụ, các cơ quan hành chính các cấp, cán bộ công chức liên quan và toàn thể cộng đồng các dân tộc thiểu số trên cả nước.
Nhiệm vụ và quyền hạn cốt lõi của Nha Dân tộc thiểu số- Nghiên cứu và đề xuất chính sách dân tộc: Nha Dân tộc thiểu số có nhiệm vụ thu thập tài liệu, điều tra và nghiên cứu kỹ lưỡng về tình hình đời sống, phong tục tập quán, văn hóa, kinh tế của các bộ tộc, dân tộc thiểu số trên toàn quốc. Từ các kết quả nghiên cứu này, Nha có trách nhiệm tham mưu, đề xuất lên Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Chính phủ các chủ trương, chính sách phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đồng bào.
- Thúc đẩy và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc: Thực hiện các biện pháp tuyên truyền, giáo dục sâu rộng nhằm xóa bỏ các định kiến, tàn dư chia rẽ dân tộc do chế độ thực dân để lại. Nha đóng vai trò cầu nối thắt chặt tình đoàn kết, tương thân tương ái giữa đa số và thiểu số, cũng như giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số với nhau trong đại gia đình Việt Nam thống nhất.
- Hỗ trợ phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội: Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan để xây dựng và triển khai các chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số cải tiến phương thức sản xuất, phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, xóa mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp và chăm sóc sức khỏe y tế.
- Giải quyết các tranh chấp và khiếu nại: Tiếp nhận, xem xét và tham gia giải quyết các kiến nghị, khiếu nại của đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến đất đai, phong tục tập quán hoặc các tranh chấp nội bộ phát sinh, đảm bảo sự công bằng, thấu tình đạt lý và tôn trọng bản sắc riêng của từng dân tộc.
- Cơ cấu lãnh đạo: Nha Dân tộc thiểu số được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của một Giám đốc Nha do Bộ trưởng Bộ Nội vụ bổ nhiệm. Giám đốc Nha chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về toàn bộ tiến độ, chất lượng và hiệu quả hoạt động của Nha.
- Thiết lập các bộ phận chuyên môn: Để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đa dạng, Nha được phép thành lập các phòng, ban chuyên môn phụ trách từng mảng công việc cụ thể như phòng nghiên cứu chính sách, phòng tuyên truyền vận động, và bộ phận hành chính tổng hợp.
- Quan hệ phối hợp công tác: Nha Dân tộc thiểu số có trách nhiệm liên hệ và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hành chính địa phương, đặc biệt là ở những vùng miền núi, biên giới có đông đồng bào thiểu số sinh sống, nhằm nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và triển khai các chủ trương của Chính phủ một cách đồng bộ, hiệu quả.
Nghị định 359-NV/NĐ năm 1946 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Văn bản này đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử trong việc định hình hệ thống cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách về công tác dân tộc trong giai đoạn đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | VIỆT |
| | Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 1946 |
Chiếu theo sắc lệnh số 58 ngày 3 tháng 5 năm 1946 tổ chức bộ Nội vụ,
NGHỊ ĐỊNH
Trừ hai cố vấn ra, giám đốc, phó giám đốc và bí thư trưởng đều phải chọn trong đồng bào thiểu số.
Giám đốc sẽ do một sắc lệnh bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng bộ Nội vụ.
Phó Giám đốc, bí thư trưởng và cố vấn đều do nghị định của Bộ trưởng bộ Nội vụ bổ nhiệm.
Điều thứ 3: Nha Dân tộc thiểu số gồm có:
1) Một văn phòng phụ trách các việc công văn, hồ sơ, vật liệu, kế toán và viên chức.
2) Một ban nghiên cứu có nhiệm vụ sưu tầm tài liệu và nghiên cứu mọi vấn đề chính trị, hành chính, văn hóa, xã hội, kinh tế và tài chính có quan hệ mật thiết đến các dân tộc thiểu số.
3) Một ban tuyên truyền có nhiệm vụ củng cố tinh thần đoàn kết và tình nhân ái giữa các dân tộc và chống mọi mưu mô chia rẽ.
Ban tuyên truyền sẽ liên lạc với nha Thông tin Tuyên truyền toàn quốc để thực hiện chương trình tuyên truyền chung trong phạm vi dân tộc thiểu số.
4) Một ban thanh tra có nhiệm vụ:
- giám sát các công việc hành chính và chính trị ở các miền có dân tộc thiểu số;
- thảo luận với ban nghiên cứu về đề nghị lên Chính phủ những sự cải cách thích hợp về hành chính và chính trị.
Ban thanh tra sẽ mật thiết liên lạc với nha Thanh tra toàn quốc để thi hành nhiệm vụ được dễ dàng.
5) Một ban kinh tế có nhiệm vụ giải quyết vấn đề tiếp tế cho các miền có dân tộc thiểu số và giúp đỡ một cách thiết thực các dân tộc thiểu số trong các công cuộc kiến thiết.
6) Một ban tiếp đãi phụ trách việc đón tiếp các đồng bào thiểu số.
Điều thứ 4: Mỗi phòng, mỗi ban có một chủ sự điều khiển, do Bộ trưởng bộ Nội vụ bổ nhiệm.
Điều thứ 5: Đổng lý sự vụ bộ Nội vụ chiếu nghị định thi hành.
| BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ |
Nghị định 359-NV/NĐ năm 1946 về nhiệm vụ của nha Dân tộc thiểu số do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ban hành.
- Số hiệu: 359-NV/NĐ
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 09/09/1946
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Huỳnh Thúc Kháng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 40
- Ngày hiệu lực: 24/09/1946
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
